<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<feed xmlns="http://www.w3.org/2005/Atom"
      xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/" 
      xml:lang="vn">
<title>Lớp tiếng Trung (khóa I) - Đề án 165</title> 
<link rel="alternate" type="text/html" href="http://dean165.vnweblogs.com" /> 
<link href="http://dean165.vnweblogs.com/rss/atom/14795" rel="self" type="application/rss+xml" />
	 
	<updated>2011-07-20T10:34:33+07:00</updated> 
<generator>lifetype-1.2.11_r7114</generator> 
<id>http://dean165.vnweblogs.com/rss/atom/14795</id>
 
<rights>Copyright (c) dean165</rights> 
  
 <entry> 
 <id>tag:www.vnweblogs.com,2011-07-20:311742</id>
 <title>C&amp;ocirc;ng h&amp;agrave;m 1958 với chủ quyền Ho&amp;agrave;ng Sa v&amp;agrave; Trường Sa của Việt Nam</title> 
 <link rel="alternate" type="text/html" href="http://dean165.vnweblogs.com/post/14795/311742" /> 
  
 <updated>2011-07-20T10:34:33+07:00</updated> 
 <summary type="text"> Gần đ&amp;acirc;y Trung Quốc lu&amp;ocirc;n r&amp;ecirc;u rao c&amp;aacute;i gọi l&amp;agrave; họ c&amp;oacute; chủ quyền kh&amp;ocirc;ng thể tranh c&amp;atilde;i đối với hai quần đảo Ho&amp;agrave;ng Sa ...</summary> 
 <author> 
  
 <name>dean165</name> 
</author> 
<dc:subject>
Tin tức 
</dc:subject> 
 <content type="text" xml:lang="vn" xml:base="http://dean165.vnweblogs.com"> 
  Gần đ&acirc;y Trung Quốc lu&ocirc;n r&ecirc;u rao c&aacute;i gọi l&agrave; họ c&oacute; chủ quyền kh&ocirc;ng thể tranh c&atilde;i đối với hai quần đảo Ho&agrave;ng Sa v&agrave; Trường Sa. Việc Trung Quốc diễn giải nội dung C&ocirc;ng h&agrave;m ng&agrave;y 14-9-1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng như l&agrave; một chứng cứ cho thấy Việt Nam đ&atilde; c&ocirc;ng nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo Ho&agrave;ng Sa v&agrave; Trường Sa l&agrave; hết sức phiến diện v&agrave; xuy&ecirc;n tạc nội dung, &yacute; nghĩa của bản C&ocirc;ng h&agrave;m đ&oacute;, ho&agrave;n to&agrave;n xa lạ với nền tảng ph&aacute;p l&yacute; của Việt Nam cũng như luật ph&aacute;p quốc tế, bất chấp thực tế kh&aacute;ch quan của bối cảnh lịch sử đương thời. C&oacute; thể n&oacute;i, giải th&iacute;ch xuy&ecirc;n tạc C&ocirc;ng h&agrave;m 1958 l&agrave; một trong chuỗi những h&agrave;nh động c&oacute; t&iacute;nh to&aacute;n nhằm tạo cớ, từng bước hợp thức h&oacute;a y&ecirc;u s&aacute;ch chủ quyền phi l&yacute; của họ đối với hai quần đảo Ho&agrave;ng Sa v&agrave; Trường Sa của Việt Nam. 
   
  Đảo N&uacute;i Le thuộc quần đảo Trường Sa  
  
  &nbsp;  
  &nbsp;  
 Theo l&yacute; giải của Trung Quốc, ng&agrave;y 4 th&aacute;ng 9 năm 1958, Thủ tướng Trung Quốc Chu &Acirc;n Lai đ&atilde; c&ocirc;ng khai tuy&ecirc;n bố với quốc tế quyết định của Ch&iacute;nh phủ Trung Quốc về hải phận 12 hải l&yacute; kể từ đất liền của Trung Quốc v&agrave; c&aacute;c đảo ngo&agrave;i khơi, bao gồm cả quần đảo T&acirc;y Sa v&agrave; Nam Sa (tức quần đảo Ho&agrave;ng Sa v&agrave; Trường Sa của Việt Nam). Sau đ&oacute;, ng&agrave;y 14-9-1958, Thủ tướng Ch&iacute;nh phủ Việt Nam D&acirc;n chủ Cộng h&ograve;a (VNDCCH) Phạm Văn Đồng gửi C&ocirc;ng h&agrave;m cho Thủ tướng Chu &Acirc;n Lai, nguy&ecirc;n văn như sau: 
  "Thưa Đồng ch&iacute; Tổng l&yacute;,  
  Ch&uacute;ng t&ocirc;i xin tr&acirc;n trọng b&aacute;o tin để Đồng ch&iacute; Tổng l&yacute; r&otilde;: Ch&iacute;nh phủ nước Việt Nam D&acirc;n chủ Cộng h&ograve;a ghi nhận v&agrave; t&aacute;n th&agrave;nh bản tuy&ecirc;n bố ng&agrave;y 4 th&aacute;ng 9 năm 1958 của Ch&iacute;nh phủ nước Cộng ho&agrave; Nh&acirc;n d&acirc;n Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc.  
  Ch&iacute;nh phủ nước Việt Nam D&acirc;n chủ Cộng h&ograve;a t&ocirc;n trọng quyết định ấy v&agrave; sẽ chỉ thị cho c&aacute;c cơ quan Nh&agrave; nước c&oacute; tr&aacute;ch nhiệm triệt để t&ocirc;n trọng hải phận 12 hải l&yacute; của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng ho&agrave; Nh&acirc;n d&acirc;n Trung Hoa tr&ecirc;n mặt biển. Ch&uacute;ng t&ocirc;i xin k&iacute;nh gửi Đồng ch&iacute; Tổng l&yacute; lời ch&agrave;o rất tr&acirc;n trọng&rdquo;.  
 Cần phải thấy rằng, c&aacute;c tuy&ecirc;n bố n&oacute;i tr&ecirc;n của Trung Quốc cũng như của VNDCCH ra đời trong bối cảnh c&oacute; nhiều chuyển biến phức tạp v&agrave; cấp b&aacute;ch đối với Trung Quốc về t&igrave;nh h&igrave;nh l&atilde;nh thổ tr&ecirc;n biển theo luật ph&aacute;p quốc tế cũng như diễn biến căng thẳng của vấn đề qu&acirc;n sự xung quanh eo biển Đ&agrave;i Loan. Năm 1956, Li&ecirc;n Hợp Quốc bắt đầu tiến h&agrave;nh c&aacute;c hội nghị quốc tế b&agrave;n về Luật Biển, sau đ&oacute; một số hiệp định được k&yacute; kết v&agrave;o năm 1958, tuy nhi&ecirc;n vẫn chưa l&agrave;m thỏa m&atilde;n y&ecirc;u s&aacute;ch về l&atilde;nh hải của một số quốc gia. Từ đầu thế kỷ XX, nhiều quốc gia đ&atilde; bắt đầu ch&uacute; &yacute; tới nguồn lợi to lớn từ kho&aacute;ng sản v&agrave; t&agrave;i nguy&ecirc;n biển, bộc lộ &yacute; đồ mở rộng chủ quyền tr&ecirc;n biển. Trung Quốc, d&ugrave; trong lịch sử &iacute;t quan t&acirc;m đến biển, cũng bắt đầu ch&uacute; &yacute; đến việc mở mang, kiếm t&igrave;m những đặc quyền tr&ecirc;n biển. Mặc d&ugrave; l&uacute;c đ&oacute; chưa phải l&agrave; th&agrave;nh vi&ecirc;n của Li&ecirc;n Hợp Quốc, nhưng Trung Quốc cũng bắt đầu ch&uacute; &yacute; đến việc l&ecirc;n tiếng với cộng đồng quốc tế nhằm giải quyết c&aacute;c vấn đề tr&ecirc;n biển theo hướng c&oacute; lợi cho Trung Quốc. Trong chiến lược cho tương lai, th&igrave; việc cạnh tranh tr&ecirc;n biển, cũng như t&igrave;m kiếm những nguồn t&agrave;i nguy&ecirc;n tr&ecirc;n biển l&agrave; một vấn đề được Trung Quốc đặt ra. Tr&ecirc;n thực tế, cũng từ đầu thế kỷ XX, Trung Quốc đ&atilde; h&igrave;nh th&agrave;nh &yacute; định nh&ograve;m ng&oacute; c&aacute;c quần đảo Ho&agrave;ng Sa v&agrave; Trường Sa của Việt Nam. R&otilde; r&agrave;ng, việc nh&ograve;m ng&oacute; c&aacute;c quần đảo Ho&agrave;ng Sa, Trường Sa của Việt Nam từ thế kỷ XX đ&atilde; nằm trong chiến lược "lấn s&acirc;n&rdquo; của Trung Quốc về tham vọng mở rộng bi&ecirc;n giới quốc gia tr&ecirc;n biển. 
 Ng&agrave;y 26-5-1950, chiến tranh Triều Ti&ecirc;n b&ugrave;ng nổ, Tổng thống Hoa Kỳ Harry S. Truman đ&atilde; ra lệnh cho Hạm đội 7 tiến v&agrave;o eo biển Đ&agrave;i Loan, ngăn chặn cuộc tấn c&ocirc;ng của Trung Quốc nhắm v&agrave;o c&aacute;c đảo tr&ecirc;n eo biển Đ&agrave;i Loan. Với h&agrave;nh động n&agrave;y, Mỹ đ&atilde; thực sự bảo hộ Đ&agrave;i Loan, mặc cho Trung Quốc kịch liệt l&ecirc;n &aacute;n. Để tỏ r&otilde; quyết t&acirc;m giải ph&oacute;ng Đ&agrave;i Loan, ng&agrave;y 3-9-1954, Trung Quốc đ&atilde; tấn c&ocirc;ng trừng phạt đối với c&aacute;c h&ograve;n đảo ven biển như Kim M&ocirc;n, M&atilde; Tổ. C&aacute;c nh&agrave; ch&eacute;p sử gọi đ&acirc;y l&agrave; cuộc khủng hoảng eo biển Đ&agrave;i Loan lần thứ nhất. Ng&agrave;y 11-8-1954, Thủ tướng Trung Quốc Chu &Acirc;n Lai tuy&ecirc;n bố sẽ "giải ph&oacute;ng&rdquo; Đ&agrave;i Loan, v&agrave; tăng cường ph&aacute;o k&iacute;ch v&agrave;o hai đảo Kim M&ocirc;n v&agrave; M&atilde; Tổ. Ng&agrave;y 12-9-1954, Chủ tịch Hội đồng Li&ecirc;n qu&acirc;n Hoa Kỳ đưa ra dự t&iacute;nh tấn c&ocirc;ng Trung Quốc bằng vũ kh&iacute; nguy&ecirc;n tử nhưng Tổng thống Eisenhower đ&atilde; do dự sử dụng vũ kh&iacute; nguy&ecirc;n tử cũng như sự li&ecirc;n can của qu&acirc;n đội Hoa Kỳ v&agrave;o cuộc chiến n&agrave;y. Năm 1958, tiếp tục xảy ra cuộc khủng hoảng eo biển Đ&agrave;i Loan lần thứ hai. Ng&agrave;y 23-8-1958 Trung Quốc đột ngột tăng cường n&atilde; ph&aacute;o v&agrave;o đảo Kim M&ocirc;n. Theo Hiệp định Ph&ograve;ng thủ tương hỗ giữa Đ&agrave;i Loan-Hoa Kỳ, Tổng thống Eisenhower đ&atilde; ra lệnh cho t&agrave;u chiến Hoa Kỳ đến bảo vệ đường tiếp tế hậu cần từ đảo Đ&agrave;i Loan đến 2 đảo tiền ti&ecirc;u Kim M&ocirc;n v&agrave; M&atilde; Tổ. 
 Ngo&agrave;i bối cảnh "phức tạp v&agrave; cấp b&aacute;ch&rdquo; đối với Trung Quốc như đ&atilde; n&ecirc;u tr&ecirc;n, theo Thạc sĩ Ho&agrave;ng Việt (Quỹ Nghi&ecirc;n cứu Biển Đ&ocirc;ng), C&ocirc;ng h&agrave;m 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng ra đời trong bối cảnh quan hệ đặc th&ugrave; VNDCCH &ndash;Trung Quốc l&uacute;c đ&oacute; "vừa l&agrave; đồng ch&iacute; vừa l&agrave; anh em&rdquo;. Năm 1949, bộ đội Việt Nam c&ograve;n tấn c&ocirc;ng v&agrave; chiếm v&ugrave;ng Tr&uacute;c Sơn thuộc l&atilde;nh thổ Trung Quốc từ tay c&aacute;c lực lượng kh&aacute;c rồi trao trả lại cho Qu&acirc;n giải ph&oacute;ng Trung Quốc. Năm 1957, Trung Quốc chiếm giữ đảo Bạch Long Vĩ của Việt Nam từ tay một số lực lượng kh&aacute;c, rồi sau đ&oacute; cũng trao trả cho Việt Nam. Điều n&agrave;y cho thấy quan hệ đặc th&ugrave; của hai nước VNDCCH &ndash; Trung Quốc l&uacute;c bấy giờ. Do vậy, trong t&igrave;nh h&igrave;nh l&atilde;nh thổ Trung Quốc đang bị đe dọa chia cắt, cuộc khủng hoảng eo biển Đ&agrave;i Loan lần thứ hai khiến Hải qu&acirc;n Hoa Kỳ đưa t&agrave;u chiến v&agrave;o can thiệp, việc Trung Quốc ra tuy&ecirc;n bố về l&atilde;nh hải bao gồm đảo Đ&agrave;i Loan trước hết nhằm khẳng định chủ quyền tr&ecirc;n biển của Trung Quốc trong t&igrave;nh thế bị đe dọa tại eo biển Đ&agrave;i Loan. Tuy nhi&ecirc;n, Trung Quốc vẫn kh&ocirc;ng qu&ecirc;n mục đ&iacute;ch "s&acirc;u xa&rdquo; của họ tr&ecirc;n Biển Đ&ocirc;ng n&ecirc;n đ&atilde; "lồng gh&eacute;p&rdquo; th&ecirc;m hai quần đảo Ho&agrave;ng Sa v&agrave; Trường Sa của Việt Nam v&agrave;o bản tuy&ecirc;n bố. C&ocirc;ng h&agrave;m 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng xuất ph&aacute;t từ mối quan hệ rất đặc th&ugrave; với Trung Quốc trong thời điểm VNDCCH đang rất cần tranh thủ sự ủng hộ v&agrave; gi&uacute;p đỡ của c&aacute;c quốc gia trong khối x&atilde; hội chủ nghĩa bấy giờ v&agrave; l&agrave; một cử chỉ ngoại giao tốt đẹp thể hiện quan điểm ủng hộ của VNDCCH trong việc t&ocirc;n trọng l&atilde;nh hải 12 hải l&yacute; của Trung Quốc trước c&aacute;c diễn biến qu&acirc;n sự phức tạp tr&ecirc;n eo biển Đ&agrave;i Loan. Thủ tướng Phạm Văn Đồng đ&atilde; ph&aacute;t biểu những lời ủng hộ Trung Quốc trong ho&agrave;n cảnh hết sức khẩn trương, chiến tranh chuẩn bị leo thang, Hạm đội 7 của Mỹ đang tiến v&agrave;o eo biển Đ&agrave;i Loan v&agrave; đe dọa Trung Quốc. 
 Nội dung C&ocirc;ng h&agrave;m 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng được thể hiện rất thận trọng, đặc biệt l&agrave; kh&ocirc;ng hề c&oacute; việc tuy&ecirc;n bố từ bỏ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Ho&agrave;ng Sa v&agrave; Trường Sa. Bởi, hơn ai hết, ch&iacute;nh Thủ tướng VNDCCH thấu hiểu quyền tuy&ecirc;n bố về l&atilde;nh thổ quốc gia thuộc thẩm quyền cơ quan quyền lực nh&agrave; nước cao nhất l&agrave; Quốc hội, v&agrave; việc bảo vệ t&ograve;an vẹn l&atilde;nh thổ quốc gia lu&ocirc;n lu&ocirc;n l&agrave; mục ti&ecirc;u h&agrave;ng đầu đối với Nh&agrave; nước v&agrave; nh&acirc;n d&acirc;n Việt Nam, nhất l&agrave; trong ho&agrave;n cảnh ra đời của C&ocirc;ng h&agrave;m như đ&atilde; n&ecirc;u tr&ecirc;n. C&ocirc;ng h&agrave;m 1958 c&oacute; hai nội dung rất r&otilde; r&agrave;ng: Một l&agrave;, Ch&iacute;nh phủ VNDCCH ghi nhận v&agrave; t&aacute;n th&agrave;nh việc Trung Quốc mở rộng l&atilde;nh hải ra 12 hải l&yacute;; Hai l&agrave;, Ch&iacute;nh phủ VNDCCH chỉ thị cho c&aacute;c cơ quan nh&agrave; nước t&ocirc;n trọng giới hạn l&atilde;nh hải 12 hải l&yacute; m&agrave; Trung Quốc tuy&ecirc;n bố. Trong C&ocirc;ng h&agrave;m của Thủ tướng Phạm Văn Đồng kh&ocirc;ng c&oacute; từ n&agrave;o, c&acirc;u n&agrave;o đề cập đến vấn đề l&atilde;nh thổ v&agrave; chủ quyền, c&agrave;ng kh&ocirc;ng n&ecirc;u t&ecirc;n bất kỳ quần đảo n&agrave;o như Trung Quốc đ&atilde; n&ecirc;u. Do vậy, chỉ x&eacute;t về c&acirc;u chữ trong một văn bản c&oacute; t&iacute;nh chất ngoại giao cũng dễ d&agrave;ng nhận thấy mọi suy diễn cho rằng C&ocirc;ng h&agrave;m 1958 đ&atilde; tuy&ecirc;n bố từ bỏ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Ho&agrave;ng Sa v&agrave; Trường Sa v&agrave; coi đ&oacute; l&agrave; bằng chứng khẳng định Việt Nam đ&atilde; thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo n&agrave;y l&agrave; xuy&ecirc;n tạc lịch sử v&agrave; ho&agrave;n to&agrave;n kh&ocirc;ng c&oacute; cơ sở ph&aacute;p l&yacute;. 
 Tại Hội nghị San Francisco 1951, c&aacute;c quốc gia tham dự đ&atilde; b&aacute;c bỏ y&ecirc;u s&aacute;ch về chủ quyền của Trung Quốc tr&ecirc;n hai quần đảo Ho&agrave;ng Sa v&agrave; Trường Sa. Cũng tại hội nghị n&agrave;y, Việt Nam đ&atilde; long trọng tuy&ecirc;n bố chủ quyền l&acirc;u đời v&agrave; li&ecirc;n tục của m&igrave;nh tr&ecirc;n hai quần đảo Ho&agrave;ng Sa v&agrave; Trường Sa trong phi&ecirc;n họp to&agrave;n thể m&agrave; kh&ocirc;ng c&oacute; bất kỳ sự phản đối hay &yacute; kiến g&igrave; kh&aacute;c của tất cả c&aacute;c quốc gia tham dự. Điều đ&oacute; c&oacute; nghĩa l&agrave; kể từ năm 1951, cộng động quốc tế đ&atilde; thừa nhận chủ quyền lịch sử v&agrave; ph&aacute;p l&yacute; của Việt Nam tại hai quần đảo Ho&agrave;ng Sa v&agrave; Trường Sa. Những tuy&ecirc;n bố đơn phương về chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo n&agrave;y theo luật ph&aacute;p quốc tế l&agrave; v&ocirc; hiệu. Hiệp định Gen&egrave;ve 1954, m&agrave; Trung Quốc l&agrave; một nước tham gia ch&iacute;nh thức, cũng thừa nhận chủ quyền hai quần đảo Ho&agrave;ng Sa v&agrave; Trường Sa thuộc về người Việt Nam. C&aacute;c điều khoản trong Hiệp định cũng y&ecirc;u cầu c&aacute;c quốc gia tham dự Hội nghị cam kết t&ocirc;n trọng chủ quyền độc lập, nền thống nhất quốc gia v&agrave; sự to&agrave;n vẹn l&atilde;nh thổ của Việt Nam. Do vậy, phần tuy&ecirc;n bố về chủ quyền của Trung Quốc li&ecirc;n quan tới hai quần đảo Ho&agrave;ng Sa v&agrave; Trường Sa của Việt Nam trong bản tuy&ecirc;n bố ng&agrave;y 4-9-1958 về cơ sở ph&aacute;p l&yacute; quốc tế đương nhi&ecirc;n được xem l&agrave; kh&ocirc;ng c&oacute; hiệu lực. Trong C&ocirc;ng h&agrave;m 1958, Thủ tướng Phạm Văn Đồng kh&ocirc;ng hề đề cập đến hai quần đảo Ho&agrave;ng Sa v&agrave; Trường Sa. V&igrave; điều đ&oacute; l&agrave; kh&ocirc;ng cần thiết, bởi theo Hiệp định Gen&egrave;ve 1954, hai quần đảo Ho&agrave;ng Sa v&agrave; Trường Sa nằm ph&iacute;a Nam vĩ tuyến 17 tạm thời thuộc quyền quản l&yacute; của Ch&iacute;nh phủ Việt Nam Cộng H&ograve;a (VNCH). Trong thời điểm đ&oacute;, dưới g&oacute;c độ t&agrave;i ph&aacute;n quốc tế, th&igrave; Ch&iacute;nh phủ VNDCCH kh&ocirc;ng c&oacute; nghĩa vụ v&agrave; quyền hạn h&agrave;nh xử chủ quyền tại hai quần đảo n&agrave;y theo luật ph&aacute;p quốc tế. C&ocirc;ng h&agrave;m 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đương nhi&ecirc;n chỉ t&aacute;n th&agrave;nh những tuy&ecirc;n bố của Trung Quốc c&oacute; nội dung hợp ph&aacute;p được cộng đồng quốc tế thừa nhận tr&ecirc;n cơ sở luật ph&aacute;p quốc tế cho đến giai đoạn đ&oacute;. Một phần nội dung của bản tuy&ecirc;n bố ng&agrave;y 4-9-1958 của Trung Quốc đ&atilde; vi phạm nghi&ecirc;m trọng chủ quyền quốc gia về l&atilde;nh thổ của Việt Nam, đồng thời cũng vi phạm nghi&ecirc;m trọng c&aacute;c cơ sở ph&aacute;p l&yacute; về chủ quyền tr&ecirc;n hai quần đảo Ho&agrave;ng Sa v&agrave; Trường Sa m&agrave; cộng đồng quốc tế đ&atilde; thừa nhận cũng như đ&atilde; nhiều lần t&aacute;i thừa nhận một c&aacute;ch minh thị l&agrave; thuộc chủ quyền của Việt Nam. Ch&iacute;nh phủ VNDCCH trong bối cảnh quan hệ hữu nghị rất đặc th&ugrave; với Trung Quốc đ&atilde; khẳng định lập trường ghi nhận, t&aacute;n th&agrave;nh tuy&ecirc;n bố giới hạn 12 hải l&yacute; về l&atilde;nh hải của Trung Quốc, c&ograve;n những nội dung cụ thể diễn giải vượt qu&aacute; phạm vi chủ quyền l&atilde;nh thổ của Trung Quốc theo c&aacute;c hiệp ước quốc tế đ&atilde; kh&ocirc;ng được đề cập tới như l&agrave; một sự mặc nhi&ecirc;n thừa nhận sự v&ocirc; hiệu của n&oacute; dưới &aacute;nh s&aacute;ng của ph&aacute;p luật quốc tế. Trong khi đ&oacute;, Ch&iacute;nh quyền VNCH, theo Hiệp định Gen&egrave;ve 1954, đ&atilde; li&ecirc;n tục thực thi chủ quyền l&acirc;u đời của người Việt Nam tr&ecirc;n hai quần đảo Ho&agrave;ng Sa v&agrave; Trường Sa bằng c&aacute;c văn bản h&agrave;nh ch&iacute;nh nh&agrave; nước cũng như bằng việc triển khai thực thi chủ quyền thực tế tr&ecirc;n hai quần đảo n&agrave;y. Đỉnh cao của sự khẳng định chủ quyền Việt Nam tr&ecirc;n hai quần đảo Ho&agrave;ng Sa v&agrave; Trường Sa trong giai đoạn n&agrave;y l&agrave; trận hải chiến quyết liệt của Hải qu&acirc;n VNCH chống lại sự x&acirc;m lược của t&agrave;u chiến v&agrave; m&aacute;y bay Trung Quốc tại quần đảo Ho&agrave;ng Sa năm 1974. 
   
  Bức C&ocirc;ng h&agrave;m ng&agrave;y 14-9-1958 của   
  Ch&iacute;nh phủ nước Việt Nam D&acirc;n Chủ Cộng h&ograve;a  
   do Thủ tướng Phạm Văn Đồng k&yacute;  
 Trong bối cảnh lịch sử đặc biệt n&ecirc;u tr&ecirc;n c&agrave;ng thấy r&otilde; một sự thật hiển nhi&ecirc;n l&agrave; C&ocirc;ng h&agrave;m ng&agrave;y 14-9-1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đơn giản chỉ ghi nhận l&atilde;nh hải 12 hải l&yacute; của Trung Quốc, kh&ocirc;ng hề nhắc lại c&aacute;c nội dung mập mờ li&ecirc;n quan đến c&aacute;c quần đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam. Về thực chất, C&ocirc;ng h&agrave;m 1958 thể hiện một th&aacute;i độ ch&iacute;nh trị, một cử chỉ hữu nghị với tuy&ecirc;n bố giới hạn l&atilde;nh hải 12 hải l&yacute; của Trung Quốc. Thực l&agrave; phi l&yacute;, nếu cố t&igrave;nh suy diễn v&agrave; xuy&ecirc;n tạc (như lập luận ph&iacute;a Trung Quốc), cho rằng Thủ tướng Phạm Văn Đồng, người con ưu t&uacute; của d&acirc;n tộc, lại k&yacute; văn bản từ bỏ l&atilde;nh thổ v&agrave; chủ quyền của đất nước trong khi ch&iacute;nh &ocirc;ng v&agrave; cả d&acirc;n tộc Việt Nam đ&atilde; chiến đấu hết m&igrave;nh để gi&agrave;nh độc lập, tự do. C&oacute; lẽ cần phải nhấn mạnh rằng tất cả những h&agrave;nh động ngoại giao của Thủ tướng Phạm Văn Đồng trong C&ocirc;ng h&agrave;m 1958 c&oacute; thể hiểu kh&ocirc;ng phải l&agrave; &ocirc;ng kh&ocirc;ng nh&igrave;n thấy mọi &yacute; đồ của Trung Quốc đối với c&aacute;ch mạng Việt Nam v&igrave; &ocirc;ng đ&atilde; c&oacute; kinh nghiệm trong b&agrave;n đ&agrave;m ph&aacute;n Gen&egrave;ve năm 1954, khi m&agrave; Trung Quốc đ&atilde; c&oacute; kh&ocirc;ng &iacute;t động th&aacute;i rất bất lợi cho VNDCCH. Nội dung C&ocirc;ng h&agrave;m ng&agrave;y 14-9-1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng ph&ugrave; hợp với ho&agrave;n cảnh v&agrave; mối quan hệ đặc th&ugrave; giữa VNDCCH v&agrave; Trung Quốc bấy giờ, đồng thời cũng h&agrave;m chứa th&aacute;i độ kh&ocirc;ng bao giờ từ bỏ chủ quyền của người Việt Nam tr&ecirc;n hai quần đảo Ho&agrave;ng Sa v&agrave; Trường Sa. Đ&oacute; cũng l&agrave; quan điểm nhất qu&aacute;n của Việt Nam, bởi từ năm 1945 đến nay, Quốc hội nước Việt Nam D&acirc;n chủ Cộng h&ograve;a, Quốc hội Việt Nam Cộng h&ograve;a, Mặt trận DTGPMN Việt Nam v&agrave; sau đ&oacute; l&agrave; Ch&iacute;nh phủ C&aacute;ch mạng l&acirc;m thời Cộng h&ograve;a miền Nam Việt Nam v&agrave; hiện nay l&agrave; Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam chưa bao giờ l&ecirc;n tiếng hoặc ra nghị quyết từ bỏ chủ quyền của Việt Nam tr&ecirc;n hai quần đảo Ho&agrave;ng Sa v&agrave; Trường Sa. 
 Một cơ sở nữa tr&ecirc;n phương diện ph&aacute;p l&yacute;, nước VNDCCH l&uacute;c đ&oacute; kh&ocirc;ng trực tiếp quản l&yacute; đối với hai quần đảo Ho&agrave;ng Sa v&agrave; Trường Sa. Trước năm 1975, c&aacute;c quốc gia v&agrave; l&atilde;nh thổ tranh chấp gồm: Trung Quốc, Đ&agrave;i Loan, Việt Nam Cộng h&ograve;a v&agrave; Philippines. Như vậy, những lời tuy&ecirc;n bố của VNDCCH xem như lời tuy&ecirc;n bố của một quốc gia thứ ba kh&ocirc;ng c&oacute; ảnh hưởng đến vụ tranh chấp. Tuy nhi&ecirc;n, c&oacute; t&aacute;c giả đ&atilde; cố t&igrave;nh n&ecirc;u thuyết "estoppel&rdquo; để suy diễn những lời tuy&ecirc;n bố đ&oacute; c&oacute; hiệu lực b&oacute; buộc đối với Việt Nam. 
 Theo luật quốc tế, kh&ocirc;ng c&oacute; một văn bản ph&aacute;p l&yacute; n&agrave;o c&oacute; thể gắn cho những lời tuy&ecirc;n bố đơn phương một t&iacute;nh chất b&oacute; buộc, ngoại trừ thuyết "estoppel&rdquo;. Mục đ&iacute;ch ch&iacute;nh của n&oacute; ngăn chặn trường hợp một quốc gia c&oacute; thể hưởng lợi v&igrave; những th&aacute;i độ bất nhất của m&igrave;nh, v&agrave; do đ&oacute;, g&acirc;y thiệt hại cho quốc gia kh&aacute;c. V&igrave; vậy, estoppel phải hội đủ c&aacute;c điều kiện ch&iacute;nh: (1) Lời tuy&ecirc;n bố hoặc h&agrave;nh động phải do một người hoặc cơ quan đại diện cho quốc gia ph&aacute;t biểu v&agrave; phải được ph&aacute;t biểu một c&aacute;ch minh bạch; (2) Quốc gia nại "estoppel&rdquo; phải chứng minh rằng m&igrave;nh đ&atilde; dựa tr&ecirc;n những lời tuy&ecirc;n bố hoặc hoạt động của quốc gia kia, m&agrave; c&oacute; những hoạt động n&agrave;o đ&oacute;, hoặc kh&ocirc;ng hoạt động; (3) Quốc gia nại "estoppel&rdquo; cũng phải chứng minh rằng, v&igrave; dựa v&agrave;o lời tuy&ecirc;n bố của quốc gia kia, m&igrave;nh đ&atilde; bị thiệt hại, hoặc quốc gia kia đ&atilde; hưởng lợi khi ph&aacute;t biểu lời tuy&ecirc;n bố đ&oacute;; (4) Nhiều bản &aacute;n c&ograve;n đ&ograve;i hỏi lời tuy&ecirc;n bố hoặc hoạt động phải được ph&aacute;t biểu một c&aacute;ch li&ecirc;n tục v&agrave; l&acirc;u d&agrave;i. Th&iacute; dụ: bản &aacute;n "Ph&acirc;n định biển trong v&ugrave;ng Vịnh Maine&rdquo;, bản &aacute;n "Những hoạt động qu&acirc;n sự v&agrave; b&aacute;n qu&acirc;n sự tại Nicaragua&rdquo;, bản &aacute;n "Ng&ocirc;i đền Preah Vihear&rdquo;... 
 &Aacute;p dụng những nguy&ecirc;n tắc tr&ecirc;n của estoppel v&agrave;o những lời tuy&ecirc;n bố của VNDCCH, ch&uacute;ng ta thấy thiếu điều kiện 2 v&agrave; 3 đ&atilde; n&ecirc;u ở tr&ecirc;n. Năm 1956, năm 1958 v&agrave; năm 1965, Trung Quốc đ&atilde; kh&ocirc;ng c&oacute; th&aacute;i độ n&agrave;o, hoặc thay đổi th&aacute;i độ v&igrave; dựa v&agrave;o lời tuy&ecirc;n bố của VNDCCH. Trung Quốc cũng kh&ocirc;ng thể chứng minh được rằng m&igrave;nh bị thiệt hại g&igrave; do dựa v&agrave;o những lời tuy&ecirc;n bố đ&oacute;. VNDCCH cũng kh&ocirc;ng được hưởng lợi g&igrave; khi c&oacute; những lời tuy&ecirc;n bố đ&oacute;. 
 Trong suốt qu&aacute; tr&igrave;nh thực hiện mưu đồ b&aacute; chủ tr&ecirc;n Biển Đ&ocirc;ng, Trung Quốc đ&atilde; kh&ocirc;ng &iacute;t lần đưa ra c&aacute;c t&agrave;i liệu xuy&ecirc;n tạc lịch sử, biến c&oacute; th&agrave;nh kh&ocirc;ng, biến kh&ocirc;ng th&agrave;nh c&oacute;, tung hỏa m&ugrave; để cố t&igrave;nh l&agrave;m sai lệch nhận thức của ch&iacute;nh nh&acirc;n d&acirc;n Trung Quốc cũng như của cộng đồng quốc tế về vấn đề n&agrave;y theo hướng c&oacute; lợi cho mưu đồ của Trung Quốc. Tuy nhi&ecirc;n, trước những bằng chứng hiển nhi&ecirc;n của sự thật lịch sử v&agrave; dưới &aacute;nh s&aacute;ng của luật ph&aacute;p quốc tế những h&agrave;nh vi xuy&ecirc;n tạc, tung hỏa m&ugrave;, cố t&igrave;nh l&agrave;m cho cộng đồng quốc tế ngộ nhận c&agrave;ng khiến cho Trung Quốc lộ r&otilde; &acirc;m mưu cũng như thủ đoạn của họ trong suốt qu&aacute; tr&igrave;nh &aacute;p đặt &yacute; đồ "nuốt trọn&rdquo; Biển Đ&ocirc;ng, theo kiểu "miệng n&oacute;i h&ograve;a b&igrave;nh kh&ocirc;ng xưng b&aacute;, tay l&agrave;m phức tạp ho&aacute; t&igrave;nh h&igrave;nh&rdquo;. 
  Nh&oacute;m PV Biển Đ&ocirc;ng  
  [ Kỳ 25:  Ch&acirc;u bản thời vua Bảo Đại khắc ghi   
  chủ quyền Ho&agrave;ng Sa của Việt Nam]  
  [ Kỳ 24:  Ch&acirc;u bản thời Minh Mạng v&agrave; Thiệu Trị khắc ghi   
  chủ quyền Ho&agrave;ng Sa v&agrave; Trường Sa của Việt Nam]  
  [ Kỳ 23:  "Đường lưỡi b&ograve;&rdquo; phi l&yacute; v&agrave; tham vọng b&aacute; chủ  
  của Trung Quốc ở Biển Đ&ocirc;ng]  
  [ Kỳ 22:  Trung Quốc chưa bao giờ c&oacute; chủ quyền  
  ở Ho&agrave;ng Sa v&agrave; Trường Sa]  
  [ Kỳ 21:  Cơ sở ph&aacute;p l&yacute; khẳng định chủ quyền        Ho&agrave;ng Sa v&agrave; Trường Sa của Việt Nam]  
  [ Kỳ 20:  Cơ sở ph&aacute;p l&yacute; quốc tế về sự thiết lập       chủ quyền l&atilde;nh thổ tại c&aacute;c hải đảo]  
  [ Kỳ 19:  Cờ Tổ quốc vẫn tung bay tr&ecirc;n ngư trường Ho&agrave;ng Sa]  
  [ Kỳ 18:  "Sinh Tồn&rdquo; tr&ecirc;n đại dương gi&oacute; b&atilde;o]  
  [ Kỳ 17:  C&ocirc; Lin - "Mắt thần&rdquo; của biển]  
  [ Kỳ 16:  Trận chiến bảo vệ chủ quyền Trường Sa năm1988]  
  [ Kỳ 15:  Chủ quyền Ho&agrave;ng Sa v&agrave; Trường Sa của Việt Nam       giai đoạn sau 1991]  
  [ Kỳ 14:  Chủ quyền Ho&agrave;ng Sa v&agrave; Trường Sa của Việt Nam        giai đoạn 1975 - 1991]  
  [ Kỳ 13:  K&yacute; ức Ho&agrave;ng Sa trong nhiều thế hệ người Việt Nam]  
  [ Kỳ 12:  Trận hải chiến bảo vệ chủ quyền Ho&agrave;ng Sa        của Việt Nam năm 1974]  
  [ Kỳ 11:  Chủ quyền Ho&agrave;ng Sa v&agrave; Trường Sa của Việt Nam        giai đoạn 1954-1975]  
  [ Kỳ10:  Chủ quyền Ho&agrave;ng Sa v&agrave; Trường Sa của Việt Nam       giai đoạn 1945 -1954]  
  [ Kỳ 9:  Chủ quyền Ho&agrave;ng Sa v&agrave; Trường Sa của Việt Nam       thời Ph&aacute;p thuộc]  
  [ Kỳ 8:  Ho&agrave;ng Sa v&agrave; Trường Sa trong thư tịch cổ Trung Hoa]  
  [ Kỳ 7:  Ho&agrave;ng Sa-Trường Sa: Tư liệu cổ phươngT&acirc;y]  
  [ Kỳ 6:  Hải đội Ho&agrave;ng Sa thực thi chủ quyền]  
  [ Kỳ 5:  Thực thi chủ quyền ở Ho&agrave;ng Sa v&agrave; Trường Sa        của c&aacute;c triều đại Việt Nam ]  
  [ Kỳ 4:  Chủ quyền Ho&agrave;ng Sa v&agrave; Trường Sa của Việt Nam        trong thư tịch triều Nguyễn ]  
  [ Kỳ 3:  Chủ quyền biển đảo của Việt Nam từ c&aacute;c bản đồ       trong lịch sử]  
  [ Kỳ 2:  Chủ quyền của Việt Nam ở Ho&agrave;ng Sa v&agrave; Trường Sa       từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII]  
  [ Kỳ 1:  V&agrave;i n&eacute;t địa l&yacute; tự nhi&ecirc;n thuộc v&ugrave;ng biển Việt Nam ]    
</content> 
</entry> 
 
 <entry> 
 <id>tag:www.vnweblogs.com,2011-07-04:308771</id>
 <title>H&amp;atilde;y đ&amp;aacute;ng mặt l&amp;agrave; đ&amp;agrave;n &amp;ocirc;ng Việt!</title> 
 <link rel="alternate" type="text/html" href="http://dean165.vnweblogs.com/post/14795/308771" /> 
  
 <updated>2011-07-04T10:41:55+07:00</updated> 
 <summary type="text">     Em không chịu nổi anh huênh hoang, hãnh tiến nhưng em càng không chịu nổi khi anh tự ti đến ươn hèn. Xin đừng để chúng em phải thốt lên: Thời của ...</summary> 
 <author> 
  
 <name>dean165</name> 
</author> 
<dc:subject>
Trải nghiệm 
</dc:subject> 
 <content type="text" xml:lang="vn" xml:base="http://dean165.vnweblogs.com"> 
      Em không chịu nổi anh huênh hoang, hãnh tiến nhưng em càng không chịu nổi khi anh tự ti đến ươn hèn. Xin đừng để chúng em phải thốt lên: Thời của những người đàn ông không đáng mặt đàn ông! Hãy hành động vì một nước Việt hùng cường để được tự hào về anh.            (Minh họa: Ngọc Diệp)      Anh thường khoe với mọi người anh có một cô người yêu dịu dàng, nết na, chịu thương, chịu khó. Em ru mình trong lời khen đó và đắm chìm trong vầng hào quang của anh, người đàn ông lịch lãm, tài năng và giàu nghị lực. Mỗi lần anh đăng đàn diễn thuyết, nhìn hàng ngàn cặp mắt hướng về anh đầy ngưỡng mộ, em không khỏi tự hào… Nhưng hôm nay chắc anh sẽ thầm hỏi, tại sao lại có bức thư này? Phải chăng có sự thay đổi nào đã xuất hiện trong em?     Chắc anh nhớ bữa chúng mình về quê người bạn em bên dòng sông Hậu, em đã ngây ngô đặt cho anh câu hỏi: “Sao ở đây nhiều cô gái trẻ trung, xinh đẹp đua nhau đi lấy chồng Đài Loan, Hàn Quốc bất chấp họ già nua, tàn tật hả anh?”. Anh đã bảo em rằng họ mong muốn “đổi đời”, có cuộc sống khấm khá hơn. Rồi anh thản nhiên xem một bộ phim lãng mạn của Mỹ có cô đào xinh đẹp Elizabeth Taylor đóng, để mặc mình em với cái câu hỏi “đàn ông xứ Việt mình đâu cả rồi để các cô gái phải tha phương kiếm chồng?”      Anh có nhớ lần về quê anh, thấy khu vườn đầy rau xanh ngắt, em rất hồ hởi nhưng đến bữa, trên mâm lại chẳng có cọng rau nào. Em thắc mắc, anh vừa cười, vừa nói để cho bí mật được tuôn ra một cách nhẹ nhàng nhất, dễ chịu nhất: “Rau khu vườn em thấy là rau bán còn rau ở khu nhà ăn thì hết cả rồi”. Vì tò mò, em đã tự tìm ra sự thật là rau đem bán thì phun thuốc trừ sâu và hóa chất tăng trưởng còn rau nhà để ăn thì không bón các chất đó. Em đã khóc vì không hiểu được tại sao những giá trị đạo đức nhân văn mà tổ tiên tạo dựng lên bằng biết bao công sức lại băng hoại đến nông nỗi này và tại sao nó lại xảy ra ở ngay chính căn nhà của người đàn ông có học thức và lịch thiệp là anh?     Từ đó, từng bước em đã rời khỏi vòng hào quang lấp lánh của anh, rời khỏi những lời ru cao đẹp của anh, rời khỏi những sợi tơ óng ánh trí tuệ của anh, rời khỏi cả những diễn đàn hừng hực ngôn từ mỗi lần anh hùng hồn diễn thuyết để tự mình “lần mò” vào cái lõi của cuộc đời thực mà đồng bào của em đang sống.      Em đã bắt đầu hiểu ra rằng có những câu hỏi em không thể hỏi anh nữa vì những câu hỏi đó rất dễ làm cho tình yêu của chúng ta bị rạn nứt, thậm chí bị đổ vỡ.      Nhưng có một sự thật là anh đã khác trong con mắt của em.      Anh khác từ sau lần đầu tiên xuất ngoại về, trong quán cà phê, anh say sưa ca ngợi Singapore đầy cây xanh, đường xá trật tự, thu nhập đầu người hơn 30.000 USD/ năm, thành phố rất hiện đại… Rồi anh bảo chủ quán mở bài hát của Trịnh Công Sơn với giọng hát của Khánh Ly “… Mưa vẫn mưa bay trên tầng tháp cổ…” để rồi đắm mình trong bài hát đó. Tiếng hát Khánh Ly và nhạc Trịnh dầu mê hoặc nhưng vẫn không thể cuốn em ra khỏi câu hỏi “Tại sao Singapore, một đất nước nhỏ bé chỉ hơn 3 triệu dân, diện tích chỉ hơn 550 km2, tài nguyên không có gì lại là một quốc gia giầu có và tươi đẹp như thế?”.      Anh khác trong mắt em từ buổi tại một cuộc hội thảo có người bạn Israel đã nói đại ý rằng chúng ta thật may mắn khi được sinh ra ở một đất nước giầu có về tài nguyên khoáng sản, đất đai phì nhiêu và rộng lớn. Người bạn Israel thốt lên: “Nhìn đất đai của các ông mà chúng tôi khát thèm”. Anh quay sang nói với em giọng đầy tự mãn: “Em thấy chưa, ai cũng thèm muốn có một đất nước như đất nước mình”. Anh không biết rằng em cảm thấy tự ái, bức bối xen lẫn niềm tủi nhục. Tại sao Israel chỉ có sa mạc, thời tiết khắc nghiệt, dân cư ít ỏi mà họ đã xây dựng được một quốc gia có tầm ảnh hưởng khoa học, kinh tế hàng đầu thế giới. Giả sử họ chỉ có bằng một nửa những thuận lợi như chúng ta, chắc chắn họ đã là một siêu cường lâu rồi.      Em ngạc nhiên khi thấy trong các câu chuyện của các anh, em chỉ thấy toát lên sự hài lòng, mãn nguyện mà không có ai đặt câu hỏi: Tại sao chúng ta vẫn còn là nước nghèo? Đến bao giờ chúng ta trở thành hùng cường để cho em và lũ bạn gái của em đi đến đâu cũng không còn tủi nhục, ngẩng mặt lên trong sự tự hào?      Các anh hí hửng khoe với nhau những gì mình làm được là nhất nước. Anh thân yêu!     Em không chịu nổi khi anh huênh hoang, hãnh tiến nhưng em càng không chịu nổi khi anh tự ti đến ươn hèn. Khi có điều kiện tiếp cận với các nước hàng đầu thế giới như Anh, Nhật, Mỹ... anh và các bạn anh đã coi bất cứ cái gì của họ cũng hoàn hảo, cũng là nhất còn tất tần tật những gì của Việt Nam chúng ta đều bị coi là tầm thường, xoàng xĩnh. Thói vọng ngoại đã khiến các anh toan tính đi làm thuê cho nước ngoài để được vinh dự là những người làm thuê cho các công ty số một. Vậy thì nói cho cùng lý tưởng của anh là gì? Vâng! Anh có thể biện minh rằng anh làm tất cả để sau này em và các con sẽ có một cuộc sống đầy đủ. Anh còn nói không phải người đàn ông nào ở Việt Nam cũng làm được điều ấy cho người mình yêu, rằng em phải biết tự hào về anh. Em rất biết ơn anh về điều đó nhưng nó không cho em niềm tự hào về anh, về các bạn anh. Điều mà em và những người phụ nữ chúng em cần ở anh, những người đàn ông Việt Nam là nghị lực và khí phách vươn lên. Không huênh hoang, tự mãn nhưng cũng không tự ti, khiếp nhược và hơn hết, hãy biết “nhấm nháp” sự cay đắng của nỗi nhục để từ đó vươn dậy cho mỗi cá nhân, cho cộng đồng và cho Tổ quốc. Xin đừng để chúng em phải thốt lên: Thời của những người đàn ông không đáng mặt đàn ông!     Anh có thể cho rằng em không biết điều và quá tham lam. Không, em không tham lam nhưng em đầy khát vọng. Tham lam, ích kỷ có thể làm lụn bại một dân tộc nhưng khát vọng nhân văn sẽ biến một dân tộc trở nên hùng cường.     Anh và những người đàn ông thân yêu của chúng em hãy tràn trề khát vọng, hãy xông vào cuộc đua tranh, hãy hành động và hành động vì một nước Việt vĩ đại, hùng cường để em thực sự tự hào về anh.     Anh và các anh thân yêu!     Khi biết em viết bức thư này cho anh, mấy đứa bạn gái của em đọc và đòi được tham gia. Vì vậy, lúc đầu là Thư gửi anh nhưng giờ đây là Thư gửi các anh và các bạn em muốn được cùng ký tên vào bức thư này.      Dù là Em gửi anh hay Chúng em gửi các anh thì điều đó có gì quan trọng khi mà thông điệp của em và các bạn em gửi đến các anh là: Hỡi những đàn ông Việt, hãy vươn vai đứng dậy bằng hào khí cha ông ngàn xưa truyền lại.     Vũ Thị Lê Nguyên  
</content> 
</entry> 
 
 <entry> 
 <id>tag:www.vnweblogs.com,2011-06-16:305064</id>
 <title>Th&amp;aacute;ch thức Biển Đ&amp;ocirc;ng v&amp;agrave; &amp;quot;chiếc nỏ thần&amp;quot; Việt Nam</title> 
 <link rel="alternate" type="text/html" href="http://dean165.vnweblogs.com/post/14795/305064" /> 
  
 <updated>2011-06-16T09:09:41+07:00</updated> 
 <summary type="text">      Dân tộc Việt Nam có một vũ khí chiến lược vô song chỉ được dùng đến khi không còn phương cách nào khác. Vũ khí đó có khả năng làm kinh ngạc đối ...</summary> 
 <author> 
  
 <name>dean165</name> 
</author> 
<dc:subject>
Tin tức 
</dc:subject> 
 <content type="text" xml:lang="vn" xml:base="http://dean165.vnweblogs.com"> 
       Dân tộc Việt Nam có một vũ khí chiến lược vô song chỉ được dùng đến khi không còn phương cách nào khác. Vũ khí đó có khả năng làm kinh ngạc đối phương và thế giới bằng những nỗ lực phi thường mà trước đó không ai có thể hình dung được.    Dân tộc Việt Nam có một vũ khí chiến lược vô song chỉ được dùng đến khi không còn phương cách nào khác. Vũ khí đó có khả năng làm kinh ngạc đối phương và thế giới bằng những nỗ lực phi thường mà trước đó không ai có thể hình dung được.    Những biến động dồn dập gần đây ở Biển Đông với hành động phi đạo lý của Trung Quốc trong xâm phạm chủ quyền của Việt Nam chỉ là phần nổi của một tảng băng chìm khổng lồ chứa đựng không chỉ tham vọng vô đáy của Trung Quốc trong vùng biển xung yếu này mà cả sự đánh giá rất thấp (nếu không nói là coi thường) khả năng ứng xử chiến lược của nhà nước và sức trỗi dậy của dân tộc Việt Nam.  Đây là một nước cờ sâu và táo bạo. Có lẽ những người đi nước cờ này đã trù tính kỹ tới ba phản ứng sau đây của Việt Nam.     Thứ nhất,  Việt Nam sẽ không tiếc tiền, vội vã mua sắm vũ khí, tăng cường phòng thủ. Điều này sẽ làm ngân sách quốc gia kiệt quệ, kinh tế vĩ mô chao đảo, kinh tế suy yếu.      Thứ hai,  người dân Việt Nam sẽ rất bức xúc trong khi nhà nước bối rối lo ngại nên tăng cường kiểm soát và kìm chế. Kết quả là, người Việt Nam sẽ mất đi tính sáng suốt của sự đồng lòng; và do đó không còn tâm trí nào cho một nỗ lực cải cách sâu rộng.      Thứ ba,  giới doanh nhân Việt Nam sẽ mất đi quyết tâm và nhuệ khí&#160; trong thâm nhập thị trường Trung Quốc, một yếu tố quan trọng không thể thiếu trong chiến lược phát triển. Vì thế, Việt Nam sẽ tiếp tục là nước thua thiệt và yếu kém nhất trong các nước châu Á trong quan hệ thương mại với thị trường khổng lồ và tăng trưởng nhanh chóng này.     Thế nhưng, những người chơi nước cờ sâu và táo bạo nói trên có thể không lường hết sức trỗi dậy của dân tộc Việt Nam. Dân tộc này có một vũ khí chiến lược vô song chỉ được dùng đến khi không còn phương cách nào khác. Vũ khí đó có khả năng làm kinh ngạc đối phương và thế giới bằng những nỗ lực phi thường mà trước đó không ai có thể hình dung được. Thách thức Biển Đông có lẽ là một vận hội vô giá, nó buộc người Việt Nam chúng ta phải dùng đến chiếc &quot;nỏ thần&quot; kỳ diệu này.      Chúng ta cần hiểu Trung Quốc hơn      Để vượt qua thách thức nghiệt ngã hiện nay, Việt Nam cần hiểu rõ hơn Trung Quốc. Đây là một dân tộc có nền văn hóa lớn, lâu đời, với nhiều thành quả huy hoàng trong quá khứ nhưng đã bị kìm nén nặng nề trong hàng trăm năm qua do chính sách đóng cửa và não trạng mê muội. Từ khi có cải cách do ông Đặng Tiểu Bình khởi xướng họ đã đi được những bước khổng lồ, làm thế giới thán phục, với động lực chủ đạo là ý chí và tham vọng rất lớn, trọng dụng nhân tài, tầm nhìn rộng, và mưu kế sâu sắc. Xu thế này hiện còn rất mạnh mẽ và có thể còn kéo dài.     Việt Nam cũng như nhiều nước khác cần thấu hiểu cục diện này và chuẩn bị thật tốt để có thể sống bên một người láng giềng khổng lồ, hùng mạnh, tham vọng, mưu sâu, và có thể có những hành vi nhẫn tâm trong khẳng định quyền thế nhờ sự trỗi dậy của mình.     Đồng thời, Việt Nam cũng cần biết rõ những điểm yếu rất dễ tổn thương của Trung Quốc.       Thứ nhất,  đó là nội tình phức tạp với nhiều yếu tố bất ổn từ trong cốt lõi. Mức độ ổn định chính trị và kiểm soát tham nhũng của Trung Quốc rất thấp so với hầu hết các nước (theo khảo sát thường niên của Ngân hàng Thế giới). Trung quốc sẽ không thể rảnh tay làm mưa gió trên thế giới nếu người dân Trung Quốc thấy chính phủ mình thua kém Việt Nam và các nước láng giềng trong nỗ lực cải cách-phát triển. Khi đó Trung Quốc sẽ phải quay về giải quyết vấn đề nội bộ.      Thứ hai,  hình ảnh nhân văn của Trung Quốc trên trường quốc tế còn rất thấp. Từ thực tế châu Phi đến Biển Đông, họ chưa chứng tỏ được mình là một quốc gia có trách nhiệm cao trong&#160; kiến tạo hòa bình và phồn vinh cho thế giới.      Thứ ba,  Trung Quốc để lại nhiều ấn tượng chưa đẹp về tính trung thực và sự nhất quán giữa hành động và lời nói, từ chất lượng sản phẩm đến đường lối kinh tế và chính sách ngoại giao.     Một mặt khác, Trung Quốc là một quốc gia có lãnh đạo giỏi, tầm nhìn xa. Trên thực tế, họ rất ngại và kiêng nể các quốc gia có hội đủ ba yếu tố: thượng tôn các qui luật của tạo hóa, trọng dụng nhân tài, và dốc sức khai phát sức mạnh dân tộc. Bởi họ biết dân tộc này sẽ là một quốc gia hùng cường. Hàn Quốc là một trường hợp điển hình. Trong khi đó, họ có thể hành xử rất ngạo mạn với những quốc gia mê muội, giáo điều, hắt hủi hiền tài, phân liệt nhân tâm. Bởi họ biết đất nước này đang ở vào thế suy vi.     Trung Quốc đã qua giai đoạn trỗi dậy hòa bình và bước vào giai đoạn khẳng định uy lực của mình. Họ sẽ không ngại đối đầu trên những điểm mạnh của họ, đặc biệt là về thực lực kinh tế và quân sự. Tuy nhiên họ sẽ phải chùn lại nếu sự đụng độ khoét sâu các điểm yếu nêu trên: ổn định chính trị thấp, hình ảnh nhân văn hạn chế, ấn tượng về hành xử thiếu văn minh và trách nhiệm.      Việt Nam: Chiếc &quot;nỏ thần&quot; và phương cách sử dụng        Từ bài học từ cha ông       Binh pháp cổ có tổng kết rằng, muốn làm nên một chiến thắng hiển hách, cần có khả năng làm kinh ngạc đối phương. Đây là chiếc &quot;nỏ thần&quot; kỳ diệu mà người Việt Nam qua bao thế hệ đã dùng đến mỗi khi đất nước bị lâm nguy hoặc ngoại xâm giày xéo. Ông cha ta đã để lại những bài học quí giá khi dùng đến vũ khí chiến lược này.     Bài học của Đức Trần Hưng Đạo chỉ ra rằng cách bảo vệ tổ quốc tốt nhất là chủ động tiến công vào những yếu kém của chính mình. Theo tư tưởng này, ngài thảo ra hịch tướng sĩ, khích lệ tướng sĩ thấy nỗi nhục quốc gia mà bỏ thói hư tật xấu, quyết chí một lòng, xả thân vì nước.     Ngài chỉ rõ, nếu để mất nước thì: &quot;chẳng những thân ta kiếp này chịu nhục đến ngàn năm sau tiếng nhơ khôn rửa, tên xấu còn lưu, mà gia thanh các ngươi cũng không khỏi mang danh là tướng bại trận.&quot;     Và nếu giữ được nước thì: &quot;trăm đời sau còn để tiếng thơm; chẳng những thụy hiệu ta không hề mai một, mà tên họ các ngươi cũng sử sách lưu truyền.&quot;     Nguyễn Trãi nêu ra những nguyên lý cao cả để dân tộc vượt lên mọi sự bạo ngược:    &quot;Lấy đại nghĩa để thắng hung tàn    Lấy chí nhân để thay cường bạo&quot;    (Bình Ngô Đại cáo)         Hoàng đế Quang Trung Nguyễn Huệ trăn trở tìm kiếm người hiền tài ra giúp nước: &quot;Trẫm đang ghé chiếu lắng nghe, thức ngủ mong mỏi mà có người tài cao học rộng chưa từng thấy đến... Ngẫm cho kỹ: cái nhà to lớn - sức một cây không dễ gì chống đỡ, sự nghiệp thái bình - sức một người không thể đảm đương.&quot; (Chiếu cầu hiền)      Đến nỗ lực hôm nay               Sẽ cần những nghiên cứu sâu sắc và thảo luận rộng khắp trong nhân dân để tìm ra đủ phương cách để Việt Nam có thể vượt lên bằng những nỗ lực làm kinh ngạc thế giới, buộc đối phương phải rút về thế phòng thủ - hòa hoãn. Ba hướng đi lớn cho các nỗ lực có thể là:     1- Xác lập ý chí cải cách của lãnh đạo Đảng và Nhà nước;     2- Cả nước trên dưới một lòng toàn tâm toàn ý khai phát sức mạnh tiềm tàng của dân tộc; và     3- Toàn xã hội thành tâm coi giá trị nhân văn và lòng nhân bản làm nền tảng phát triển và hướng đích cho dân tộc đi đến phồn vinh.     Theo hướng đi này chúng ta có quyền đòi hỏi và kỳ vọng một số hành động sau đây.     + Lãnh đạo Đảng và Nhà nước lắng nghe bàn luận để thấy hết nguy cơ, thậm chí thảm họa mà đất nước nhân dân sẽ phải gánh chịu trong tương lai không xa nếu đất nước tiếp tục tụt hậu, dân tộc phân tâm.     + Lãnh đạo Đảng và Nhà nước quây quần cùng đại diện mọi tầng lớp nhân dân, ngày đêm họp bàn tìm phương kế cải cách, đưa nhanh đất nước đến hùng cường.    + Lãnh đạo Đảng và Nhà nước có chính sách sử dụng hiền tài, đưa đất nước vượt lên trên mọi lĩnh vực, từ phát triển kinh tế đến củng cố quốc phòng, từ dân chủ hóa đất nước đến xây dựng thiết chế nền tảng cho phát triển bền vững, từ cải cách giáo dục đến nâng cấp tiềm lực khoa học công nghệ, từ hợp tác quốc tế đến gia cường vị thế và hình ảnh Việt Nam.    + Có những bước đi đột phá táo bạo; đặc biệt là xây dựng một số đặc khu kinh tế nhằm huy động sức mạnh tổng lực của dân tộc, là hình mẫu của Việt Nam năm 2045, với sức đuổi vượt mạnh mẽ làm thế giới khâm phục và kính nể.    + Mỗi người dân Việt Nam, dù ở đâu hãy tự giác góp phần tạo nên hình ảnh một dân tộc có phẩm chất cao quí: thành tâm trong hợp tác, cầu thị trong học hỏi, ý thức trách nhiệm cao với cộng đồng. Việt Nam cần trở thành một điểm sáng, có sức tương phản và thu hút mạnh mẽ trong hun đúc những phẩm chất cao quí này.    [Theo Vietnamnet]  
</content> 
</entry> 
 
 <entry> 
 <id>tag:www.vnweblogs.com,2011-06-10:303940</id>
 <title>Trung Quốc li&amp;ecirc;n tục g&amp;acirc;y rối khắp Biển Đ&amp;ocirc;ng</title> 
 <link rel="alternate" type="text/html" href="http://dean165.vnweblogs.com/post/14795/303940" /> 
  
 <updated>2011-06-10T10:40:23+07:00</updated> 
 <summary type="text"> Việc các loại tàu Trung Quốc gây hấn ở Biển Đông không phải là hiếm, nhưng số lần chúng gây rối và xâm phạm chủ quyền các nước khu vực trong nửa ...</summary> 
 <author> 
  
 <name>dean165</name> 
</author> 
<dc:subject>
Tin tức 
</dc:subject> 
 <content type="text" xml:lang="vn" xml:base="http://dean165.vnweblogs.com"> 
  Việc các loại tàu Trung Quốc gây hấn ở Biển Đông không phải là hiếm, nhưng số lần chúng gây rối và xâm phạm chủ quyền các nước khu vực trong nửa tháng qua đang tăng lên đột ngột với mức độ ngày càng trắng trợn.    Trung Quốc huy động nhiều loại tàu để xâm phạm vùng biển chủ quyền của Việt Nam cũng như một nước ASEAN khác là Philippines, từ tàu đánh cá có tàu ngư chính yểm trợ đằng sau cho đến các loại tàu hải giám và cả tàu quân sự. Ngoài việc ngang nhiên tiến vào chủ quyền nước khác, chúng còn tiến hành các hoạt động phá hoại tại đây.    Các sự kiện gần đây trên Biển Đông được coi là hành động leo thang trong chuỗi các động thái xâm phạm của Trung Quốc đối với Việt Nam và Philippines, từ bắt giữ, đánh đập, đòi tiền chuộc các ngư dân Việt Nam đánh bắt xa bờ tại Hoàng Sa, Trường Sa, đến tấn công tàu khảo sát trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.          Tàu Bình Minh 02 bị một trong 3 tàu hải giám Trung Quốc (ảnh dưới) phá hoại.       Dưới đây là nhật ký những ngày căng thẳng về Biển Đông vừa qua :     Ngày 21 và 24/5 : Tàu chiến và tàu hải giám Trung Quốc liên tục có hoạt động trong vùng biển thuộc chủ quyền của Philippines. Bộ Ngoại giao Philippines dẫn nguồn tin từ Bộ Quốc phòng nước này cho biết, các tàu Trung Quốc đã tiến hành các hoạt động xây dựng và thả phao gần một bãi cạn tại nơi chỉ cách đảo chính Palawan 125 hải lý, tức nằm hoàn toàn trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Philippines.    Ngoại trưởng Philippines Albert Rosario cho rằng bất cứ việc xây cất nào của Trung Quốc tại khu vực trên đều &quot;vi phạm rõ ràng&quot; Tuyên bố chung về cách ứng xử của các bên tại Biển Đông (DOC) mà Trung Quốc ký với ASEAN năm 2002. Bộ trưởng Quốc phòng Philippines Voltaire Gazmin thì nhấn mạnh mối lo ngại số vụ Trung Quốc xâm phạm chủ quyền của nước này đang ngày càng tăng lên.    Trong khi đó, Bộ Ngoại giao Trung Quốc ra thông báo chối bỏ cáo buộc các tàu hải quân của họ xâm phạm chủ quyền Philippines. Bắc Kinh cho rằng một tàu nghiên cứu hải dương học của họ chỉ đang tiến hành các nghiên cứu bình thường tại Biển Đông.     Ngày 26/5 : Sự kiện gây chấn động dư luận Việt Nam và khiến khu vực chú ý xảy ra lúc 5h5 sáng, khi nhóm 3 tàu hải giám của Trung Quốc bất ngờ xuất hiện tấn công tàu thăm dò địa chấn Bình Minh 02 của Tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam (PVN), đang làm việc tại lô 148 trong phạm vi thềm lục địa 200 hải lý của Việt Nam, chỉ cách mũi Đại Lãnh (Phú Yên) khoảng 120 hải lý.     Chúng chạy thẳng vào khu vực khảo sát của tàu Bình Minh 02 mà không hề có cảnh báo, sau đó chủ động chạy qua khu vực thả dây cáp nhằm cắt cáp thăm dò của tàu Việt Nam. Các tàu Trung Quốc sau đó liên tiếp có hành động uy hiếp tàu Bình Minh 02 và quấy nhiễu liên tục trong vài tiếng mới chịu rút đi lúc 9h sáng cùng ngày. Tàu Bình Minh 02 sau khi khắc phục các thiệt hại đã trở lại hoạt động bình thường.     Ngày 27/5:  Bộ Ngoại giao Việt Nam trao công hàm cho sứ quán Trung Quốc, trong đó yêu cầu Bắc Kinh chấm dứt ngay những hành động vi phạm chủ quyền đối với thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Đồng thời Việt Nam yêu cầu Trung Quốc phải bồi thường thiệt hại cho tàu Bình Minh 02. Nội dung công hàm nêu rõ Trung Quốc đã vi phạm nghiêm trọng quyền chủ quyền Việt Nam đối với thềm lục địa của mình.     Ngày 27/5 : Báo chí Trung Quốc đưa tin nước này sẽ xây dựng một giàn khoan hiện đại và khổng lồ tại Biển Đông vào tháng 6. Ngay lập tức Philippines triệu tập đại sứ Trung Quốc tới để yêu cầu giải thích về việc này. Đây là lần thứ hai liên tiếp đại sứ Trung Quốc tại Manila bị triệu tập, lần trước là vì các vụ tàu Trung Quốc xâm phạm chủ quyền Philippines.     Ngày 28/5 : Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Khương Du đưa ra tuyên bố vô căn cứ về pháp lý khi cho rằng, Việt Nam thăm dò dầu khí tại vùng biển do Trung Quốc quản lý và việc các cơ quan hữu quan nước này thực hiện là tuân thủ luật biển và hoạt động giám sát trên vùng biển thuộc chủ quyền Trung Quốc. Bắc Kinh còn khẳng định họ luôn nỗ lực duy trì hoà bình trên Biển Đông.     Ngày 29/5 : Bộ Ngoại giao Việt Nam tổ chức cuộc họp báo về sự kiện Trung Quốc phá hoại tàu Bình Minh 02, trong đó người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Phương Nga tuyên bố Việt Nam kiên quyết phản đối hành động của phía Trung Quốc phá hoại, cản trở hoạt động thăm dò bình thường của Việt Nam trong vùng thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế.     Bà Nga cũng nhắc lại những yêu cầu đối với phía Trung Quốc như trong công hàm đã trao cho đại diện ngoại giao của Bắc Kinh, đồng thời bác bỏ tuyên bố ngày 28/5 của Trung Quốc. Bộ Ngoại giao Việt Nam cho rằng Trung Quốc đang cố tình đánh lừa dư luận bằng cách làm cho dư luận hiểu nhầm khu vực không có tranh chấp thành khu vực có tranh chấp.          Vị trí các tàu hải giám Trung Quốc vi phạm chủ quyền Việt Nam và cắt cáp của tàu Bình Minh 02. Ảnh:  TTXVN .     Ngày 31/5 : Một lần nữa người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Khương Du đưa ra tuyên bố ngang ngược khi cho rằng tàu hải giám Trung Quốc đã thực thi hành động chấp pháp đối với tàu Việt Nam đang hoạt động phi pháp trên vùng biển của Trung Quốc. Bắc Kinh còn ngang nghiên cho rằng hành động của Trung Quốc đối với tàu Bình Minh 02 là hoàn toàn chính đáng.     Cũng trong ngày 31/5, hội thảo quốc tế về Biển Đông bế mạc tại Indonesia và ra Tuyên bố Jakarta, trong đó nhấn mạnh Biển Đông là vấn đề đa phương. Các đại biểu dự hội thảo cho rằng duy trì hòa bình và ổn định ở Biển Đông là cần thiết cho toàn bộ khu vực và việc sử dụng vũ lực để giải quyết các vấn đề là rất nguy hiểm.     Ngày 31/5 : Trong lúc 4 tàu đánh cá của ngư dân TP Tuy Hòa đang hành nghề đánh bắt cá ngừ đại dương ở vị trí 8 độ 56’ vĩ độ bắc, 112 độ 45’ kinh độ đông, cách đảo Đá Đông, quần đảo Trường Sa, tỉnh Khánh Hòa khoảng 5 hải lý về phía đông nam, thì 3 chiếc tàu Hải quân Trung Quốc đã nổ súng bắn xuống nước uy hiếp, đe dọa không cho ngư dân Việt Nam hành nghề.     Theo Bộ chỉ huy biên phòng tỉnh Phú Yên, tình trạng ngư dân Phú Yên đánh bắt cá ngừ đại dương quanh khu vực quần đảo Trường Sa, trong phạm vi vùng biển chủ quyền Việt Nam bị tàu quân sự Trung Quốc quấy nhiễu, dùng vũ lực, súng để bắn, dọa và chèn ép đã từng nhiều lần xảy ra. Cùng ngày, một tàu thăm dò dầu khí của Việt Nam là Viking II đang làm việc trong vùng biển chủ quyền của Việt Nam lại bị tàu Trung Quốc tới gây rối.      Ngày 2/6 : Bộ Ngoại giao Việt Nam trao công hàm cho đại diện đại sứ quán Trung Quốc phản đối việc hải quân nước này dùng súng uy hiếp ngư dân Việt Nam khi đang đánh cá tại vùng biển thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam trong ngày 31/5. Đại diện Bộ Ngoại giao Việt Nam yêu cầu phía Trung Quốc chấm dứt ngay các hành động xâm phạm chủ quyền của Việt Nam và cản trở tàu cá và ngư dân Việt Nam hoạt động tại khu vực này.    Trong một diễn biến khác cũng trong ngày 2/6, Tổng thống Philippines Benigno Aquino III tuyên bố sẽ đệ trình thư lên Liên Hiệp Quốc để phản đối việc hàng loạt tàu Trung Quốc xâm nhập vùng biển nước này.     Ngày 3/6 : Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hồng Lỗi chối bỏ không có tàu Trung Quốc nào nổ súng uy hiếp ngư dân Việt Nam gần quần đảo Trường Sa. Ông này cho rằng thông tin ba tàu Trung Quốc nổ súng là không có thực và tuyên bố &quot;Trung Quốc cam kết duy trì hòa bình và ổn định&quot; ở Biển Đông.     Cũng trong ngày 3/6, Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Lương Quang Liệt trong cuộc gặp với Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam Phùng Quang Thanh bên lề Đối thoại Shangri-La đã cam kết “duy trì hòa bình và ổn định ở biển Đông, thực thi đầy đủ Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở biển Đông (DOC)”.     Ngày 4/6 : Bộ Ngoại giao Philippines ra thông báo khẳng định các hành vi xâm phạm của tàu Trung Quốc đối với chủ quyền của quốc gia Đông Nam Á này là &quot;xâm phạm hòa bình và ổn định khu vực, vi phạm nghiêm trọng DOC”.         Tàu Viking II và tàu ngư chính Trung Quốc (ảnh dưới).     Ngày 7/6 : Trong chuyến thăm huyện đảo Cô Tô của tỉnh Quảng Ninh, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết nhấn mạnh: &quot;Chúng ta mong muốn các vùng biển và hải đảo của tổ quốc luôn hoà bình, hữu nghị, ổn định, nhưng chúng ta cũng quyết tâm làm hết sức mình để bảo vệ&quot;.     Ngày 8/6 : Phát biểu bế mạc Tuần lễ biển và hải đảo, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khẳng định Việt Nam sẽ kiên quyết đấu tranh với các hoạt động vi phạm chủ quyền. Ông nhấn mạnh Việt Nam cần xác định các nhiệm vụ trọng tâm về biển và hải đảo, trong đó nhiệm vụ đầu tiên là tiếp tục khẳng định mạnh mẽ và thể hiện ý chí trong việc bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam trên các vùng biển và hải đảo.    Thủ tướng Việt Nam một lần nữa khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, chủ quyền và quyền chủ quyền của Việt Nam đối với các vùng biển, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa theo Công ước Luật biển năm 1982 của Liên Hợp Quốc.    Cũng trong ngày 8/6, tại hội nghị Chính sách an ninh Diễn đàn khu vực ASEAN (AFR) lần thứ 8 diễn ra tại Indonesia, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam Nguyễn Chí Vịnh nhấn mạnh rằng tất cả tranh chấp, bất đồng trong vấn đề Biển Đông cần phải được giải quyết bằng biện pháp hòa bình, tránh những hành động đơn phương, đặc biệt tuyệt đối không được sử dụng bạo lực, sử dụng các biện pháp mạnh để hành xử với nhau.     Ngày 9/6 : Lúc 6h sáng, một tàu cá của Trung Quốc với sự hỗ trợ của hai tàu ngư chính đã chạy ngang qua mũi tàu khảo sát Viking II đang được Tập đoàn dầu khí Việt Nam thuê. Tàu Việt Nam đã phát pháo hiệu cảnh cáo nhưng tàu cá Trung Quốc vẫn lao vào cắt cáp thăm dò của tàu Viking II. Ngay sau đó hai tàu ngư chính và các tàu khác của Trung Quốc xông vào giải cứu cho tàu cá vừa có hành vi phá hoại.    Trong cuộc họp báo chiều cùng ngày, Bộ Ngoại giao Việt Nam khẳng định khu vực mà tàu Viking II đang hoạt động khi sự việc xảy ra nằm hoàn toàn trong phạm vi chủ quyền 200 hải lý của Việt Nam. Việt Nam phản đối mạnh mẽ hành động vi phạm chủ quyền của tàu Trung Quốc, yêu cầu chấm dứt ngay không để tái diễn các hành động tương tự và đòi phía Trung Quốc bồi thường thiệt hại gây ra.     Tới buổi tối, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hồng Lỗi lên tiếng biện minh rằng tàu cá của Trung Quốc đang hoạt động ở khu vực gần Trường Sa thì &quot;bị tàu của Việt Nam đuổi theo. Trong quá trình đuổi đó tàu của Trung Quốc vướng vào cáp của tàu khảo sát dầu khí của Việt Nam&quot;. Bắc Kinh chối việc tàu nước này quấy rối tàu khảo sát của Việt Nam đồng thời tiếp tục ra yêu cầu ngang ngược đòi Việt Nam &quot;ngừng các hành động vi phạm chủ quyền của Trung Quốc&quot;.     Như vậy chỉ trong vòng nửa tháng, các tàu Trung Quốc từ hải giám, ngư chính đến tàu cá đã hai lần ngang ngược xâm phạm vùng biển chủ quyền của Việt Nam để tấn công, phá hoại cáp thăm dò trên các tàu thuộc Tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam. Bên cạnh đó, tàu Trung Quốc còn dùng súng uy hiếp ngư dân Việt Nam và nhiều lần xâm phạm chủ quyền của Philippines.    [VnExpress]  
</content> 
</entry> 
 
 <entry> 
 <id>tag:www.vnweblogs.com,2011-06-08:303583</id>
 <title>Lửa v&amp;agrave; Nước</title> 
 <link rel="alternate" type="text/html" href="http://dean165.vnweblogs.com/post/14795/303583" /> 
  
 <updated>2011-06-08T16:06:23+07:00</updated> 
 <summary type="text"> Lửa và Nước là hai thái cực khác nhau, hiện sinh cho sự đối lập. Vốn dĩ cuộc đời chúng ta gặp rất nhiều Lửa và Nước trong cuộc sống hàng ngày. Ở ...</summary> 
 <author> 
  
 <name>dean165</name> 
</author> 
<dc:subject>
Trải nghiệm 
</dc:subject> 
 <content type="text" xml:lang="vn" xml:base="http://dean165.vnweblogs.com"> 
  Lửa và Nước là hai thái cực khác nhau, hiện sinh cho sự đối lập. Vốn dĩ cuộc đời chúng ta gặp rất nhiều Lửa và Nước trong cuộc sống hàng ngày. Ở đây xin không bàn đến... tính chất vật lý hay phản ứng hóa học của Lửa và Nước, mà xin nói ở khía cạnh nhỏ khác, giữa cương và nhu, giữa nóng và lạnh... Tỷ dụ, trước những vấn đề bức xúc của xã hội, trước những sự kiện nóng bỏng, trái tim ta đầy nhiệt huyết, có khi muốn làm gì đó ngay lập tức ( Lửa ), song cũng cần giữ một cái đầu lạnh, bình tĩnh ( Nước ) để nhìn thấu đáo vấn đề để hành động cho chắc chắn.    Lửa và Nước thực ra cũng &quot;chưa biết ai hơn ai&quot;, chưa biết &quot;mỉu nào cắn mỉu nào&quot;, song Nước chưa hẳn là thất thế! Ví dụ, trên diễn đàn Quốc hội, chúng mình thường vẫn nghe một số đại biểu tham gia ý kiến như có gang, có thép, người ta vẫn ví von như có Lửa trong đó. Dân tình nghe rất sướng tai, thậm chí đã đời, rồi khẳng định đó mới  thực sự  là người đại biểu cho nhân dân. Đó cũng chỉ mới ở một chiều thôi, nếu đặt vào toàn cục,  thời thế - thế thời  có khi lại khác. Chẳng hạn nếu nói về lợi, thì chưa hẳn là đã hơn so với những đại biểu phát biểu &quot;mềm mại&quot;, ít xuất hiện trên ti vi, nhưng phát biểu ở tổ và những phát biểu của họ cũng có sức nặng không kém khi đem lợi ích (thậm chí là nhiều hơn) về cho ngành, cho địa phương, cho cái chung của nhân dân và đất nước, đó là Nước vậy.    Hay nhìn thoáng hơn một chút, Lửa có thể thiêu đốt ngay tức thì, thì Nước như sóng thần, mưa lũ cũng không kém, nếu không muốn nói Lửa chỉ trong chốc lát, song Nước lại dìn dứ, để lại di chứng, hậu quả tàn phá khủng khiếp và lâu dài. Nước có thể dập được Lửa, chứ Lửa thì không thể ngăn được thác lũ (Nước) bao giờ! Thế nên chơi với Lửa có ngày bỏng tay (có thể không chết), chơi với Nước có ngày bị đuối (xác suất chết cao hơn).    Chon Lửa và Nước là tùy thuộc vào mỗi người, khi ta bước bước chân lên là giữa Chẵn và Lẻ, giữa Lửa và Nước để khi ta đặt chân xuống, như đi một nước cờ, luôn vững chãi, ung dung, tự tại giữa Lửa và Nước, mà trong đó có quả đấm thép (Lửa) được bọc bằng nhung (Nước).    Thì cứ tỷ dụ như thế...  
</content> 
</entry> 
 
 <entry> 
 <id>tag:www.vnweblogs.com,2011-06-06:303044</id>
 <title>Y&amp;ecirc;u s&amp;aacute;ch &amp;quot;Đường lưỡi b&amp;ograve;&amp;quot; - Phi l&amp;yacute; &amp;amp; ngụy biện</title> 
 <link rel="alternate" type="text/html" href="http://dean165.vnweblogs.com/post/14795/303044" /> 
  
 <updated>2011-06-06T10:13:35+07:00</updated> 
 <summary type="text">      Đường yêu sách 9 đoạn của Trung Quốc trên biển Đông     Bản đồ &amp;quot;đường lưỡi bò&amp;quot; được Trung Quốc đưa ra quá phi lý về cả góc độ ...</summary> 
 <author> 
  
 <name>dean165</name> 
</author> 
<dc:subject>
Tin tức 
</dc:subject> 
 <content type="text" xml:lang="vn" xml:base="http://dean165.vnweblogs.com"> 
       Đường yêu sách 9 đoạn của Trung Quốc trên biển Đông     Bản đồ &quot;đường lưỡi bò&quot; được Trung Quốc đưa ra quá phi lý về cả góc độ lịch sử và pháp lý quốc tế, đó là nhận định của chuyên gia nghiên cứu về biển Đông, Th.s Hoàng Việt - Giảng viên Trường Đại học Luật TPHCM.   Không có cơ sở      Thạc sĩ Việt nói: Trung Quốc chỉ đưa một bản đồ có đường lưỡi bò kèm theo công hàm của họ phản đối về các báo cáo của Việt Nam về ranh giới ngoài thềm lục địa (năm 2009). Nhưng họ cũng không giải thích rõ ràng đường lưỡi bò này là gì.     Theo các học giả Trung Quốc, đường lưỡi bò chính thức xuất hiện lần đầu tiên trên một bản đồ do chính quyền Cộng hòa Trung Hoa xuất bản vào tháng 2-1948, được thể hiện là một đường đứt khúc gồm có 11 đoạn, bao trùm xung quanh cả bốn nhóm quần đảo, bãi ngầm lớn trên biển Đông.                     Chuyên gia nghiên cứu biển Đông Hoàng Việt      Đến năm 1953, theo phê chuẩn của Thủ tướng Chu Ân Lai, đường lưỡi bò bị bỏ hai đoạn đứt khúc, nằm giữa đảo Hải Nam và bờ biển Việt Nam trong vịnh Bắc Bộ, một đoạn nằm giữa Đài Loan và các đảo Lưu Cầu (Ryu Kyu) của Nhật Bản. Và từ giai đoạn này trở đi, nó chỉ còn 9 đoạn.    Đặc tính quan trọng nhất của một đường biên giới quốc tế là sự ổn định và dứt khoát. Đường lưỡi bò không phải là con đường có tính ổn định và xác định. Như đã nói, từ 11 đoạn, năm 1953, Trung Quốc đã phải bỏ đi hai đoạn vì quá vô lý.     Nói như Du Khoan Tứ, GS Luật của Đại học Quốc lập, Đài Loan: “Đường ranh giới chữ U không những được xác định trước khi Công ước Geneva 1958 về lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải và Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển (UNCLOS) 1982 xuất hiện, mà còn không có điểm cơ sở, cũng không có mốc kinh độ, vĩ độ, vì thế nó khó mà biểu thị là một đường biên giới được”.            Phi lý về mặt lịch sử      Yêu sách đường lưỡi bò quá ư phi lý vì những lẽ sau:      Thứ nhất , Trung Quốc cho rằng đã thực thi chủ quyền trên vùng biển này từ rất lâu, thậm chí từ trước Công nguyên. Nhưng, họ lại không đưa ra được các bằng chứng thuyết phục về vấn đề này. Ngược lại, các sách Hán văn cổ đều ghi nhận các hoạt động của dân đánh cá và dân buôn Ả rập, Ấn Độ, Mã Lai, Việt trong vùng biển này, không có một bằng chứng nào cho thấy biển Đông hoàn toàn là “ao hồ của Trung Quốc”.     Các chính quyền phong kiến Trung Quốc cũng không thiết lập hoặc duy trì có lợi cho họ một sự độc tôn nào, trước các hoạt động khai thác của các đội Hoàng Sa và Bắc Hải của triều Nguyễn. Ngược lại còn có những hành động thừa nhận tính hợp pháp của các hoạt động đó như trường hợp năm 1774: quan huyện Văn Xương giúp đội viên đội Hoàng Sa khi đi làm nhiệm vụ bị bão dạt vào đất Trung Quốc.      Thứ hai , các văn kiện chính thức của nhà nước phong kiến Trung Quốc, như Đại Nguyên nhất thống chí (1294) đến Đại Thanh Nhất thống chí (1842), trước năm 1909 đều khẳng định “cực Nam của lãnh thổ Trung Quốc là Nhai huyện, đảo Hải Nam”.     Các bản đồ lãnh thổ Trung Quốc của người nước ngoài cùng thời cũng vẽ và giải thích phù hợp với cách hiểu này của người Trung Quốc. Bản đồ Trung Quốc thế kỷ XVII của Peter de Goyer và Jacob de Keyzer thuộc Cty Đông Ấn - Hà Lan cũng có lời giải thích rất rõ: “Nơi xa nhất của Trung Quốc bắt đầu từ phía Nam đảo Hải Nam ở 18 độ vĩ Bắc, rồi từ đó ngược lên phía Bắc đến vĩ độ 42 độ”.     Trung Quốc chỉ thực sự bước chân lên quần đảo Hoàng Sa năm 1909 khi quần đảo này đã thuộc Việt Nam, không còn là đất vô chủ.      Phi lý ở cả góc độ luật pháp quốc tế            Đường lưỡi bò không chỉ bị Việt Nam mà ngay cả Malaysia, Indonesia, Philippines… phản đối bởi vì nó không có cơ sở nào trong pháp luật quốc tế. Bản thân các học giả Trung Quốc rất bối rối khi tìm quy chế pháp lý áp dụng cho vùng nước bao bọc bên trong đường lưỡi bò đó, chưa kể đến việc chính quyền Trung Quốc đã đưa ra những tuyên bố trái ngược nhau.     Tuyên bố năm 1958 về lãnh hải của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa xác định rõ ràng các đảo bị tách biệt với lục địa bởi biển cả, chứ không phải là vùng nước lịch sử. Chẳng lẽ lại tồn tại vùng biển cả nằm trong nội thủy của Trung Quốc? Không thể có điều vô lý đó.     Khái niệm vịnh lịch sử hay vùng nước lịch sử đã được luật pháp quốc tế chấp nhận trong một số hoàn cảnh hạn chế. Năm 1962, Ủy ban pháp luật quốc tế thực hiện nghiên cứu. Quy chế pháp lý của vùng nước lịch sử, bao gồm cả vịnh lịch sử.     Theo đó, xác định tiêu chuẩn một vịnh hay một vùng nước được coi là lịch sử, căn cứ theo tập quán quốc tế và các án lệ quốc tế phải thỏa mãn tối thiểu 3 điều kiện sau: 1) Quốc gia ven biển thực thi chủ quyền của mình đối với vùng được yêu sách; 2) Sự liên tục của việc thực thi quyền lực đó theo thời gian; 3) Quan điểm của các quốc gia khác với yêu sách đó. Ngoài ra, một quốc gia yêu sách danh nghĩa lịch sử phải có trách nhiệm đưa ra bằng chứng đối với các vùng nước có vấn đề đang tranh cãi này.     Theo phân tích ở trên, Trung Quốc đã không trưng ra được những bằng chứng gì chứng minh họ đã thực thi chủ quyền của họ một cách sớm nhất, liên tục, với những biện pháp hòa bình mà luật pháp quốc tế yêu cầu.     Ngay cả khi các học giả Trung Quốc đã viện dẫn một số trường hợp yêu sách vùng nước lịch sử trong thực tiễn quốc tế như: yêu sách của Libya ngày 11-10-1973 tại vịnh Sidra… Nhưng 15 trường hợp này là những yêu sách quá đáng “vùng nước lịch sử” mà luật pháp quốc tế luôn phê phán. Nó không tạo ra được một ý thức pháp luật và không bao giờ được luật quốc tế chấp nhận như một quy tắc tập quán.     Cộng đồng quốc tế chưa bao giờ ghi nhận một yêu sách vùng nước nằm trong đường lưỡi bò chiếm 80% diện tích biển Đông như thế. Yêu sách biển Đông như một ao hồ của Trung Quốc là xa lạ, đi ngược lại học thuyết các vùng nước lịch sử và sẽ không chấp nhận một khoảng không gian rộng lớn như biển này, biển lớn vào loại nhất, nhì thế giới lại nằm dưới quyền tài phán của duy nhất một nước.    Ngày 7-5-2009, Trung Quốc lần đầu tiên công khai bản đồ  đường lưỡi bò  kèm theo công hàm phản đối báo cáo của Việt Nam và Malaysia. Ngay sau đó, ngày 8-5-2009, Việt Nam và Malaysia cùng gửi công hàm phản đối lại.     Ngày 8-7-2010, Indonesia gửi công hàm lên Liên Hợp Quốc, trong đó nói rõ  đường lưỡi bò  không có cơ sở nào trong luật pháp quốc tế. Ngày 5-4-2011, Philippines cũng gửi công hàm lên Liên Hợp Quốc phản đối  đường lưỡi bò.     Ngày 30-3-2011, Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton ra tuyên bố gián tiếp phản đối sự vô lý của yêu sách  đường lưỡi bò…  Như vậy, có thể nói là yêu sách này chưa bao giờ có được sự thừa nhận của cộng đồng quốc tế.     ThS. Hoàng Việt    Theo TPO  
</content> 
</entry> 
 
 <entry> 
 <id>tag:www.vnweblogs.com,2011-04-27:294417</id>
 <title>Mở rộng tuy&amp;ecirc;n truyền c&amp;ocirc;ng khai về chủ quyền biển Đ&amp;ocirc;ng</title> 
 <link rel="alternate" type="text/html" href="http://dean165.vnweblogs.com/post/14795/294417" /> 
  
 <updated>2011-04-27T10:41:08+07:00</updated> 
 <summary type="text"> Các nhà nghiên cứu cho rằng, Việt Nam &amp;quot;không chỉ nói cho nhau nghe, mà còn phải nói cho nước ngoài nghe&amp;quot; về chủ quyền quốc gia đối với hai quần ...</summary> 
 <author> 
  
 <name>dean165</name> 
</author> 
<dc:subject>
Sinh nhật chúng ta 
</dc:subject> 
 <content type="text" xml:lang="vn" xml:base="http://dean165.vnweblogs.com"> 
  Các nhà nghiên cứu cho rằng, Việt Nam &quot;không chỉ nói cho nhau nghe, mà còn phải nói cho nước ngoài nghe&quot; về chủ quyền quốc gia đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.     &gt; Phản đối Trung Quốc vi phạm chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa     Khoảng 80 nhà nghiên cứu lịch sử, biển đảo, lãnh thổ, luật pháp hàng đầu của Việt Nam tham dự Hội nghị quốc gia lần thứ hai về Biển Đông với chủ đề &quot;Tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông: Lịch sử, Địa chính trị và Luật pháp quốc tế&quot; diễn ra ngày 26/4 tại Hà Nội.     Kể từ hội thảo quốc gia lần thứ nhất diễn ra năm 2009, đã có nhiều diễn biến mới liên quan đến vấn đề tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông, trong đó có vụ va chạm tàu Mỹ và tàu Trung Quốc; việc Trung Quốc công bố yêu sách về đường cơ sở (lưỡi bò); các tuyên bố về Biển Đông trong hội nghị an ninh khu vực ARF, hay mới đây là việc Philippines và Trung Quốc gửi công hàm phản đối các tuyên bố chủ quyền của nhau.   &quot;Những diễn biến đó làm thế giới ngày càng quan tâm hơn tới việc gìn giữ an ninh ổn định và thịnh vượng ở Biển Đông và khu vực Đông Nam Á&quot;, ông Đặng Đình Quý, Chủ nhiệm chương trình Nghiên cứu Biển Đông, nhận xét. &quot;Diễn đàn an ninh khu vực ARF 2010 thể hiện một bước lớn trong chính sách của Mỹ. Các nước khác như Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Nga... cũng ngày càng quan tâm tới vấn đề Biển Đông&quot;.     Tại hội thảo, nhà sử học Nguyễn Nhã đưa ra các chứng cứ lịch sử khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa, gồm các văn bản của Việt Nam, các văn thư của người Trung Quốc cho thấy quần đảo đó là của Việt Nam; và các tư liệu của tàu bè hoặc người phương Tây, khẳng định Hoàng Sa là của Việt Nam.    &quot;Chúng ta có nhiều văn bản quan trọng, đặc biệt là các châu bản&quot;, ông Nhã nhấn mạnh đến các văn thư của triều đình nhà Nguyễn. &quot;Nếu được dịch và phổ biến rộng rãi hơn nữa, tôi tin chắc chắn rằng chúng ta sẽ thuyết phục một cách mạnh mẽ hơn về chủ quyền&quot;.           Hội thảo Quốc gia lần thứ hai về Biển Đông. Ảnh:  Phan Lê .      Ông Nguyễn Trường Giang, thuộc Ủy ban biên giới Bộ Ngoại giao, cho rằng, Việt Nam &quot;không chỉ nói cho nhau nghe, mà còn phải nói cho nước ngoài nghe nữa&quot;.     &quot;Truyền thông là một mặt trận rất quan trọng, quyết định việc hiểu về chủ quyền của Việt Nam ta đối với các quần đảo trên Biển Đông như thế nào&quot;, ông Giang nói và chỉ rõ ba mục tiêu mà việc tuyên truyền cần nhắm đến. Đó là người dân trong nước; nhân dân và các học giả Trung Quốc; các học giả và nhân dân quốc tế.     Trong truyền thông, thì việc phổ biến kiến thức về chủ quyền biển đảo trong các nhà trường cũng phải được đẩy mạnh hơn, theo thạc sĩ Hoàng Việt, giảng viên khoa luật quốc tế Đại học Luật TP HCM. &quot;Tôi thấy rằng việc dạy về chủ quyền biển đảo của ta trong nhà trường hiện còn ít ỏi, trong khi điều này cần phải được thực hiện mạnh hơn nữa&quot;.     &quot;Nhà nước cũng nên có chính sách để phát triển các nghiên cứu về Biển Đông&quot;, ông Việt nói. Ông cũng cho biết thêm rằng trong những năm gần đây, số lượng luận án nghiên cứu của Trung Quốc về vấn đề Biển Đông tăng lên rõ rệt.     &quot;Họ viết bằng tiếng Anh, công bố quốc tế từ những trường đại học có tiếng. Vậy chúng ta cũng cần tăng số nghiên cứu quốc tế về vấn đề này, làm sao cho nổi bật lên những điểm mạnh trong các luận cứ chứng minh chủ quyền của chúng ta&quot;.     Theo ông Việt, xét về khía cạnh pháp lý, tranh chấp trên Biển Đông hiện xoay quanh ba chủ đề chính, gồm các tuyên bố chồng lấn nhau về chủ quyền biển đảo; đấu tranh chống tuyên bố về đường cơ sở của Trung Quốc (đường lưỡi bò); và quy chế đối với các đảo.    Các ý kiến đưa ra tại hội thảo còn xoay quanh việc ap dụng luật quốc tế trong tranh chấp như thế nào; các diễn biến gần đây trên Biển Đông; dự đoán tình hình Biển Đông đến 2020; kiến nghị các hướng chính sách của Việt Nam.     Các học giả nhận xét, trong chương trình nghị sự của ASEAN, vấn đề Biển Đông trở nên nổi bật, thể hiện rõ quyết tâm chuyển từ Tuyên bố về Cách ứng xử của các bên trên Biển Đông (DOC) sang Bộ Quy tắc Ứng xử trên Biển Đông (COC).    Về Trung Quốc, lập trường của nước này gần đây hướng tới việc sử dụng Công ước về Luật biển nhiều hơn, có thay đổi trong hành vi ngoại giao, cũng như một số điểm mới trên thực địa. Quá trình đàm phán về Biển Đông cũng bắt đầu có nhiều chuyển biến, các nước bắt đầu đàm phán trực tiếp về COC.    Đây là hội thảo quốc gia lần thứ hai về Biển Đông. Hội thảo lần thứ nhất diễn ra tháng 3/2009, cũng do Học viện Ngoại giao tổ chức. Ngoài ra, cơ quan này cũng tổ chức các hội thảo quốc tế về Biển Đông vào hai năm vừa rồi.     Biển Đông là một vùng thuộc Thái Bình Dương tiếp giáp với 10 nước và vùng lãnh thổ, có diện tích khoảng 3,5 triệu km vuông. Đây là nơi có mật độ tàu bè thương thuyền bận rộn hàng đầu thế giới, trong đó có nhiều tàu chở dầu cho khu vực Đông Bắc Á. Biển Đông cũng là nơi giàu tài nguyên về dầu mỏ và khí đốt, nhưng chưa được khai thức nhiều do tồn tại các tranh chấp chủ quyền.           [Nguồn: VnExpress]  
</content> 
</entry> 
 
 <entry> 
 <id>tag:www.vnweblogs.com,2011-04-26:294174</id>
 <title>Vấn đề Biển Đ&amp;ocirc;ng dưới &amp;aacute;nh s&amp;aacute;ng ph&amp;aacute;p luật quốc tế</title> 
 <link rel="alternate" type="text/html" href="http://dean165.vnweblogs.com/post/14795/294174" /> 
  
 <updated>2011-04-26T09:42:02+07:00</updated> 
 <summary type="text">        Âu tàu đảo Song Tử Tây trên quần đảo Trường Sa. (Ảnh: Phương Hoa/TTXVN)      Ngày 23/3/2011, Tân Hoa Xã, hãng tin chính thức của Trung Quốc, đã phát bài ...</summary> 
 <author> 
  
 <name>dean165</name> 
</author> 
<dc:subject>
Tin tức 
</dc:subject> 
 <content type="text" xml:lang="vn" xml:base="http://dean165.vnweblogs.com"> 
         Âu tàu đảo Song Tử Tây trên quần đảo Trường Sa. (Ảnh: Phương Hoa/TTXVN)      Ngày 23/3/2011, Tân Hoa Xã, hãng tin chính thức của Trung Quốc, đã phát bài viết “Tranh chấp Nam Hải dưới góc độ của luật biển quốc tế” của hai học giả Hạ Giám và Uông Cao, Đại học Tương Đàm, trong đó không những khẳng định cái gọi là “chủ quyền” của Trung Quốc mà còn vu cáo Việt Nam và các nước Đông Nam Á khác, “bẻ cong” Công ước Luật Biển năm 1982 của Liên hợp quốc và “tranh giành chủ quyền của Trung Quốc” ở Biển Đông.     Vietnam Plus  xin giới thiệu bài viết “Vấn đề Biển Đông dưới ánh sáng của pháp luật quốc tế” của tác giả Hải Biên, nhà nghiên cứu về Biển Đông của Việt Nam, nhằm làm rõ vấn đề Biển Đông dưới ánh sáng của pháp luật quốc tế, đặc biệt là Công ước Luật Biển năm 1982 của Liên hợp quốc.    1. Khái quát về Biển Đông       Biển Đông là một biển nửa kín ở khu vực Thái Bình Dương với diện tích hơn 3, 5 triệu km2. Có 9 quốc gia ven Biển Đông là Việt Nam, Trung Quốc, Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia, Thái Lan, Campuchia và Singapore.      Trữ lượng tài nguyên thiên nhiên ở Biển Đông lớn, đặc biệt là dầu, khí và hải sản. Gần đây, nhiều thông tin cho biết Biển Đông có trữ lượng khá lớn về băng cháy.      Biển Đông là tuyến hàng hải nhộn nhịp thứ hai trên thế giới, sau tuyến Địa Trung Hải. Mỗi ngày có khoảng 150-200 tàu trọng tài lớn đi qua Biển Đông. Hàng hóa xuất nhập khẩu thiết yếu đối với các nền kinh tế lớn như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Hong Kong phụ thuộc rất nhiều vào tuyến đường biển này.      Từ góc độ quân sự, Biển Đông là địa bàn hoạt động của hạm đội hải quân của nhiều nước trong và ngoài khu vực. Tất cả những yếu tố này dẫn đến một hệ quả tất yếu và hiển nhiên là ở Biển Đông có sự đan xen rất chặt chẽ lợi ích của nhiều nước với các mức độ khác nhau. Hòa bình và ổn định ở Biển Đông ảnh hưởng trực tiếp đến hòa bình và ổn định của khu vực và thế giới.      2. Các vùng biển của các quốc gia ven Biển Đông theo luật biển quốc tế      Hội nghị Luật Biển lần thứ III của Liên hợp quốc (1967-1982) đã thông qua Công ước Luật Biển năm 1982 với 320 điều khoản và 9 Phụ lục. Là thành quả của một cuộc thương lượng lâu dài giữa các nhóm nước khác nhau, Công ước là một giải pháp cả gói công bằng và đỉnh cao trong quá trình pháp điển hóa và phát triển tiến bộ ngành luật biển quốc tế.      Công ước xác lập rõ ràng quy chế pháp lý của các vùng biển khác nhau thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền của các quốc gia ven biển, quy định quyền và nghĩa vụ của các quốc gia khi tiến hành các hoạt động liên quan đến biển và thành lập một loạt cơ chế quốc tế quan trọng liên quan đến thực hiện Công ước và giải quyết tranh chấp biển như Tòa án Luật Biển quốc tế, Hội nghị các quốc gia thành viên của Công ước, Cơ quan Quyền lực quốc tế về Đáy Đại dương và Ủy ban Thềm lục địa.      Tính đến nay, đã có 161 quốc gia và tổ chức quốc tế tham gia Công ước Luật Biển năm 1982, trong đó có 7 quốc gia ven Biển Đông là Việt Nam, Trung Quốc, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, Brunei.     Áp dụng Công ước Luật Biển năm 1982 của Liên hợp quốc vào điều kiện cụ thể của Biển Đông chúng ta thấy mấy điểm cơ bản sau đây.       Một là,  các quốc gia ven Biển Đông có chủ quyền đối với nội thủy và lãnh hải 12 hải lý kể từ đường cơ sở của mình. Đáng lưu ý là theo luật biển quốc tế những năm 40 - 50 của thế kỷ trước, vùng lãnh hải của các quốc gia ven Biển Đông chỉ có 3 hải lý và toàn bộ phía ngoài 3 hải lý đó là vùng biển quốc tế. Như vậy, Công ước đã mở rộng phạm vi vùng lãnh hải của các quốc gia ven Biển Đông thêm 9 hải lý.      Hai là,  mỗi quốc gia ven Biển Đông có quyền chủ quyền đối với vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục địa tối thiếu 200 hải lý của mình. Chiều rộng của hai vùng biển này đều được đo từ đường cơ sở dùng để tính lãnh hải. Trong trường hợp thềm lục địa thực tế lớn hơn 200 hải lý thì quốc gia ven Biển Đông có thể mở rộng thềm lục địa của mình đến 350 hải lý với điều kiện tuân thủ đúng các quy định và thủ tục nêu trong Công ước.      Mỗi quốc gia ven Biển Đông có toàn quyền thăm dò, khai thác các tài nguyên trong các vùng biển của mình, đặc biệt là trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, để phục vụ đời sống nhân dân và phát triển đất nước. Mỗi quốc gia ven Biển Đông có toàn quyền quyết định cho phép hay không cho phép các quốc gia khác khai thác tài nguyên trong các vùng biển của mình. Mỗi quốc gia ven Biển Đông có nghĩa vụ tôn trọng các quyền chủ quyền đó của các quốc gia láng giềng khác ven Biển Đông.      Đồng thời, phù hợp các quy định của Công ước Luật Biển năm 1982, các quốc gia ven Biển Đông có nghĩa vụ tôn trọng quyền của các quốc gia khác được tự do hàng hải, tự do hàng không ở trong vùng đặc quyền kinh tế và ở vùng trời trên vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của quốc gia ven biển.       Ba là,  xuất phát từ Công ước Luật Biển năm 1982 thì sự kiện Trung Quốc ký hợp đồng với Công ty Creston năm 1992 ở bãi Tư Chính của Việt Nam và chính thức đưa yêu sách “đường lưỡi bò” ra Liên hợp quốc vào tháng 5/2009 cần được nhìn nhận thế nào? Khu vực bãi Tư Chính hoàn toàn nằm trong phạm vi thềm lục địa 200 hải lý của Việt Nam và đã được Việt Nam phân lô thăm dò dầu khí. Việc Công ty Dầu khí quốc gia Trung Quốc vào năm 1992 ký với Công ty Creston của Mỹ hợp đồng thăm dò dầu khí tại khu vực bãi Tư Chính trong thềm lục địa 200 hải lý của Việt Nam (mà họ đặt tên là Vạn An Bắc) là sự vi phạm trắng trợn quyền chủ quyền của Việt Nam theo Công ước Luật Biển năm 1982.      Còn về yêu sách “đường lưỡi bò” hay “đường 9 đoạn,” thì các học giả Trung Quốc đều biết rõ là tại Hội thảo quốc tế về Biển Đông ở Hà Nội (2009) và Thành phố Hồ Chí Minh (2010) cũng như các Hội thảo quốc tế khác, các học giả Pháp, Bỉ, Mỹ và nhiều học giả quốc tế khác đã nêu rõ yêu sách “đường lưỡi bò” mơ hồ, không có cơ sở và cho rằng Trung Quốc cần giải thích rõ bản chất pháp lý của các vùng biển trong “đường lưỡi bò” đó. Nhưng cho đến nay, cả chính giới lẫn học giả Trung Quốc đều không thể đưa ra các câu trả lời thỏa đáng.     Dùng các quy định của Công ước Luật Biển năm 1982 mà Trung Quốc cũng là một bên tham gia để đối chiếu thì ai cũng thấy rằng yêu sách này hoàn toàn trái với các quy định của Công ước. Không một quy định nào của Công ước có thể biện minh cho yêu sách “đường lưỡi bò.” Đơn giản bởi vì vùng biển mà “đường lưỡi bò” ngoạm vào không thể nào là lãnh hải hoặc vùng đặc quyền kinh tế hoặc là thềm lục địa của Trung Quốc. Đó chính là vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, Philippines, Malaysia, Indonesia và Brunei.      Yêu sách “đường lưỡi bò” phi lý nói trên đã vi phạm nghiêm trọng quyền chủ quyền của 5 nước ASEAN đối với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của mình. Chính vì vậy, mà Việt Nam, Malaysia, Indonesia và Philippines lần lượt gửi công hàm đến Tổng Thư ký Liên hợp quốc bác bỏ yêu sách này.      Việc đưa yêu sách phi lý nói trên ra Liên hợp quốc và tiến hành các việc làm gần đây ở trên thực địa nhằm theo đuổi yêu sách này đang làm cho tình hình Biển Đông trở nên phức tạp hơn, gây lo ngại thực sự cho cộng đồng thế giới và buộc dư luận phải lên tiếng. Không chỉ các quốc gia liên quan tranh chấp ở Biển Đông mà dư luận của nhiều quốc gia khác cũng đã bày tỏ ý kiến bất bình trước yêu sách này.      3. Các tranh chấp ở Biển Đông hiện nay dưới ánh sáng của pháp luật quốc tế      Ở Biển Đông có hai loại tranh chấp, gồm tranh chấp về các vùng thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế chồng lấn và tranh chấp về chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.      a. Do chiều rộng của một số khu vực ở Biển Đông (như Vịnh Bắc Bộ và Vịnh Thái Lan) hẹp hơn 400 hải lý, nên một phần vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của các quốc gia láng giềng chồng lấn lên nhau. Từ đó nảy sinh một số tranh chấp giữa các quốc gia ven Biển Đông về ranh giới vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.       Liên quan Việt Nam, ở phía Bắc chúng ta có vùng chồng lấn thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế với Trung Quốc trong Vịnh Bắc Bộ và khu vực nhỏ phía ngoài cửa Vịnh, còn ở phía Nam có vùng chồng lấn với Campuchia, Thái Lan, Malaysia trong Vịnh Thái Lan và vùng chồng lấn với Indonesia ở nam Biển Đông.      Các nước ven Biển Đông khác cũng có một số vùng chồng lấn thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế với nhau, như giữa Malaysia và Thái Lan, giữa Thái Lan và Campuchia, giữa Indonesia và Malaysia. Các khu vực chồng lấn này đã và đang từng bước được Việt Nam và các nước hữu quan giải quyết thỏa đáng theo các quy định của Công ước Luật Biển năm 1982.      b. Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa gồm nhiều đảo đá san hô rất nhỏ ở giữa Biển Đông. Hiện nay, hai quần đảo đang là tâm điểm tranh chấp phức tạp giữa một số nước ven Biển Đông. Tranh chấp về chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa liên quan Việt Nam và Trung Quốc, còn tranh chấp về chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa liên quan 5 nước, 6 bên là Việt Nam, Trung Quốc, Philippines, Malaysia, Brunei (Brunei không yêu sách về chủ quyền các đảo) và Đài Loan (Trung Quốc).      Đối với việc giải quyết tranh chấp chủ quyền đối với lãnh thổ, pháp luật quốc tế đã hình thành nguyên tắc xác lập chủ quyền là nguyên tắc chiếm hữu thật sự và thực hiện quyền lực Nhà nước một cách thật sự, liên tục và hòa bình. Nguyên tắc này đã được các nước và các cơ quan tài phán quốc tế áp dụng để giải quyết nhiều vụ tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ ở trên thế giới. Trong số đó, các vụ kinh điển thường được viện dẫn nhiều là vụ tranh chấp đảo Palmas giữa Mỹ và Hà Lan, vụ Minquiers và Ecréhous giữa Anh và Pháp, vụ đảo Clipperton giữa Mexico và Pháp, vụ Greenland giữa Na Uy và Đan Mạch…     Áp dụng nguyên tắc nói trên của pháp luật quốc tế vào trường hợp hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, mọi ngưòi đều thấy rằng Nhà nước Việt Nam đã chiếm hữu thật sự hai quần đảo này hàng trăm năm nay. Nói chính xác là nhà nước ta đã thực hiện chủ quyền ở đây ít ra từ thế kỷ XVII khi hai quần đảo chưa hề thuộc chủ quyền của bất cứ nước nào. Từ đó Việt Nam đã thực hiện thật sự chủ quyền của mình đối với hai quần đảo một cách liên tục và hòa bình.      Các bằng chứng mà Việt Nam đã thu thập được rất phong phú.              Một là,  các bản đồ Việt Nam thế kỷ XVII đã gọi hai quần đảo bằng cái tên Bãi Cát Vàng và ghi vào địa hạt huyện Bình Sơn, phủ Quảng Ngãi. Hai là, nhiều sách cổ của Việt Nam như Toàn Tập Thiên Nam Tứ chí Lộ Đồ Thư (thế kỷ XVII), Phủ Biên Tạp Lục (1776), Đại Nam Thực Lục Tiền Biên và Chính Biên (1844-1848)… đều nói về việc nhà nước cử đội Hoàng Sa ra khai thác quần đảo này.       Hai là,  nhiều sách cổ, bản đồ cổ của nước ngoài cũng thể hiện các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam.       Ba là,  Nhà nước phong kiến Việt Nam đã tổ chức các đội Hoàng Sa, Bắc Hải để tiến hành khai thác hai quần đảo (mỗi đội Hoàng Sa gồm 70 người, ra Hoàng Sa 6 tháng đánh bắt hải sản như đồi mồi, hải sâm, ốc quý‎ và thu lượm hàng hóa trên các tàu bị đắm). Các thể lệ tuyển chọn người, chế độ khen thưởng, đãi ngộ đối với các đội đều được nhà nước quy định rõ ràng.      Các đội này được duy trì và hoạt động liên tục từ thời chúa Nguyễn (1558-1783), đến nhà Tây Sơn (1786-1802) và nhà Nguyễn. Triều đình Nhà Nguyễn đã cử các tướng Phạm Quang Ảnh (năm 1815), Trương Phúc Sĩ, Phạm Văn Nguyên, Phạm Hữu Nhật (các năm 1834, 1835, 1836) ra Hoàng Sa khảo sát, đo đạc các đảo, khảo sát, vẽ bản đồ, xây miếu, dựng bia. Năm 2009, gia tộc họ Đặng ở đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi vừa mới hiến tặng Nhà nước một sắc lệnh trong gia phả của dòng họ khẳng định chủ quyền của Việt Nam.      Sau khi đô hộ Đông Dương, Pháp nhân danh Việt Nam tiếp tục quản lý hai quần đảo qua việc cử tàu chiến tuần tiễu để đảm bảo an ninh, ngăn chặn buôn lậu, cho phép người Nhật khai thác phân chim trên đảo, cử tàu De Lanessan ra nghiên cứu hải dương, địa chất, sinh vật… Từ năm 1930 đến 1932, các tàu chiến Inconstant, Alerte, La Malicieuse và De Lanessan của hải quân Pháp liên tiếp ra quần đảo Hoàng Sa. Đầu những năm 30 của thế kỷ 20, Pháp cho quân đóng ở các đảo chính thuộc quần đảo Trường Sa (Trường Sa, An Bang, Ba Bình, nhóm Song Tử, Loại Ta và Thị Tứ) .      Các hoạt động này đã được công bố trong Công báo của Cộng hòa Pháp ngày 26/7/1933. Năm 1933, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định quy thuộc quần đảo Trường Sa vào tỉnh Bà Rịa. Pháp cũng tách quần đảo Hoàng Sa ra khỏi tỉnh Nam Nghĩa và đặt vào tỉnh Thừa Thiên và cho một đơn vị đóng quân ở đó. Sau khi trở lại Đông Dương, Pháp đã yêu cầu quân Trung Hoa Dân Quốc rút khỏi các đảo mà họ đã chiếm đóng trái phép năm 1946 và Pháp đã cho quân thay thế quân Trung Quốc, xây dựng lại trạm khí tượng, đài vô tuyến.     Vào năm 1951, tại Hội nghị San Francisco có một đề nghị bổ sung bản dự thảo Hòa ước yêu cầu trao trả cho Trung Quốc hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Nhưng Hội nghị đã bác bỏ đề nghị này với số phiếu áp đảo là 46 phiếu thuận, 3 phiếu chống và 1 phiếu trắng. Tại Hội nghị Trưởng đoàn quốc gia Việt Nam đã tuyên bố khẳng định chủ quyền lâu đời của Nhà nước Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà không gặp sự phản đối hay bảo lưu của nước nào. Năm 1956 Pháp chuyển giao lãnh thổ miền Nam Việt Nam cho chính quyền Sài Gòn và nhà cầm quyền Sài Gòn đã cho quân ra tiếp quản, tổ chức hai quần đảo về mặt hành chính (lập ở mỗi quần đảo một xã thuộc một huyện ở đất liền), xây các bia chủ quyền, duy trì các trạm khí tượng.     Từ những năm 50 của thế kỷ 20 tình hình hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trở nên phức tạp hơn. Đó là, lợi dụng việc Pháp rút khỏi Đông Dương theo Hiệp định Geneva năm 1954, Trung Quốc đã chiếm nhóm đảo phía Đông của quần đảo Hoàng Sa vào năm 1956. Chính quyền Sài Gòn kịch liệt phản đối. Năm 1959 quân Trung Quốc giả làm ngư dân đổ bộ lên nhóm đảo phía Tây quần đảo Hoàng Sa. Quân đội của chính quyền Sài Gòn đã đánh trả thắng lợi và bắt 82 “ngư dân” Trung Quốc. Đối với nhóm đảo phía Tây của quần đảo Hoàng Sa, chính quyền Sài Gòn tiếp tục quản lý cho đến năm 1974.      Năm 1974, lợi dụng việc quân đội Sài Gòn phải đối phó với cuộc tiến công của quân cách mạng, Trung Quốc dùng không quân, hải quân chiếm luôn phần phía Tây của quần đảo Hoàng Sa. Chính quyền Sài Gòn và Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam đã phản đối. Năm 1975, chính quyền Sài Gòn sụp đổ, Nhà nước Việt Nam tiếp quản các đảo ở Trường Sa và lập các huyện đảo Hoàng Sa và huyện đảo Trường Sa. Một sự thật hiển nhiên là cho đến năm 1988 chưa hề có bất kỳ sự hiện diện của Trung Quốc ở quần đảo Trường Sa.      Ngày 14/3/1988, Trung Quân bắt đầu dùng vũ lực chiếm đóng một số đảo đá ở quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Trong trận chiến không cân sức năm đó, 64 người con yêu quý của Tổ quốc Việt Nam đã ngã xuống để bảo vệ chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa.      Tóm lại, dưới ánh sáng của pháp luật quốc tế, Việt Nam có đầy đủ chứng cứ lịch sử và cơ sở pháp lý khẳng định chủ quyền của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Sự thật lịch sử là Trung Quốc bắt đầu chiếm đóng nửa phía Đông quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam từ những năm 50 của thế kỷ trước và đến năm 1974 dùng vũ lực chiếm luôn phần phía Tây của quần đảo này. Còn ngày 14/3/1988 là ngày Trung Quốc dùng vũ lực để chiếm một số đảo đá thuộc quần đảo Trường Sa của chúng ta.       4. Giải pháp cho các vấn đề liên quan Biển Đông      a. Các vấn đề liên quan Biển Đông rất phức tạp, hệ trọng và nhạy cảm đối với nhiều quốc gia liên quan. Các nguồn lợi trong các vùng biển ở Biển Đông rất quan trọng đối với kế sinh nhai và đời sống hàng ngày của hàng trăm triệu con người của 9 quốc gia ven Biển Đông. Các tài nguyên thiên nhiên ở đây là một điều kiện cần thiết cho sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế của các nước liên quan. Các nước ven Biển Đông đang đẩy mạnh các hoạt động thực hiện chủ quyền biển, đảo của mình. Đồng thời các hoạt động khác liên quan đến Biển Đông cũng hết sức đa dạng, phong phú (tự do, an toàn hàng hải, chống tội phạm trên biển..) và gắn với lợi ích của nhiều quốc gia khác nhau (cả trong và ngoài khu vực).      b. Từ đó, một yêu cầu hết sức khách quan đặt ra cho tất cả các nước có hoạt động liên quan Biển Đông là phải tuân thủ luật chơi chung mà cộng đồng quốc tế, trong đó có các quốc gia ven Biển Đông, đã dày công xây dựng - Công ước Luật Biển năm 1982 của Liên hợp quốc. Khi vận dụng Công ước để thực thi chủ quyền và quyền chủ quyền đối với nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của mình như được quy định trong Công ước, quốc gia ven Biển Đông có nghĩa vụ tôn trọng chủ quyền và quyền chủ quyền của các nước khác ven Biển Đông đối với lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của họ. Đó là nghĩa vụ của quốc gia thành viên Liên hợp quốc. Đó là nghĩa vụ theo Công ước Luật Biển năm 1982. Đó là nghĩa vụ theo Công ước Vienna năm 1969 về Luật điều ước.     Sẽ là rất không công bằng và phi lý khi một quốc gia ven Biển Đông tùy tiện vẽ ra một đường yêu sách mơ hồ, trái với Công ước Luật Biển năm 1982, vi phạm các vùng biển của các quốc gia láng giềng, tạo ra “vùng tranh chấp”trong vùng biển của quốc gia láng giềng, để rồi đòi các quốc gia láng giềng bị nạn “gác tranh chấp, cùng khai thác” trên chính thềm lục địa của họ. Tương tự, việc một quốc gia ven Biển Đông tự ý quy định cấm đánh bắt cá trong vùng đặc quyền kinh tế của các quốc gia láng giềng khác cũng là việc làm trái với quy định của Công ước Luật Biển năm 1982. Cách hành xử như vậy, rõ ràng là những sự vi phạm cam kết quốc tế của một nước thành viên Liên hợp quốc theo Hiến chương của tổ chức này.      c. Sự tồn tại các tranh chấp chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cũng như tranh chấp về các vùng thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế chồng lấn là một thực tế khách quan. Việc giải quyết các tranh chấp này, đặc biệt là tranh chấp chủ quyền đối với hai quần đảo, là một công việc khó khăn, phức tạp, nhưng không phải là không thể giải quyết được.      Như đã nêu trên, giữa Việt Nam và Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia, Malaysia và Campuchia có các khu vực chồng lấn thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế ở Vịnh Bắc Bộ và Vịnh Thái Lan. Thời gian qua, căn cứ vào Công ước Luật Biển năm 1982 và với tinh thần hữu nghị, láng giềng, tôn trọng lợi ích chính đáng của nhau, Việt Nam đã phân định ranh giới các vùng biển với Thái Lan, ranh giới các vùng biển với Trung Quốc trong Vịnh Bắc Bộ và ranh giới thềm lục địa với Indonesia ở phía Nam Biển Đông. Các nước khác ven Biển Đông cũng đã giải quyết được một số tranh chấp trên biển với nhau bằng nỗ lực chung và trên cơ sở pháp luật quốc tế.      Gần đây nhất, tranh chấp về chủ quyền đối với một số đảo nhỏ giữa Malaysia và Singapore, giữa Indonesia và Malaysia cũng đã được giải quyết bằng các phán quyết của Tòa án quốc tế La Hay (ICJ).      Kinh nghiệm đó chỉ ra rằng các tranh chấp về chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cũng như các tranh chấp về các vùng biển chồng lấn giữa các nước ven Biển Đông sẽ được giải quyết ổn thỏa khi pháp luật quốc tế, trong đó có Công ước Luật Biển năm 1982, được tôn trọng và khi các biện pháp hòa bình giải quyết tranh chấp nêu trong Hiến chương Liên hợp quốc được áp dụng. Đe dọa vũ lực, đe dọa sử dụng vũ lực đã bị pháp luật quốc tế cấm. Đe dọa vũ lực, đe dọa sử dụng vũ lực sẽ không phải là cách thức đúng đắn để giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông.      d. Các tranh chấp liên quan đến Biển Đông dĩ nhiên là phức tạp. Con đường đi đến giải pháp cuối cùng cho các tranh chấp mà các bên liên quan đều chấp nhận được sẽ không bằng phẳng và còn dài. Thực tế đó đòi hỏi các bên tranh chấp ở Biển Đông tăng cường nhiều nỗ lực hơn nữa. Trong quá trình tìm kiếm giải pháp cơ bản lâu dài cho các tranh chấp, các bên cần tuân thủ các cam kết đã được nêu trong Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) ký giữa ASEAN và Trung Quốc năm 2002, đặc biệt là cam kết không có bất cứ hành động nào làm phức tạp thêm tình hình ở Biển Đông.      Các quốc gia thành viên ASEAN và Trung Quốc cũng cần tăng cường các nỗ lực, cùng nhau phấn đấu để xây dựng một văn kiện có tính pháp lý cao hơn, có tính ràng buộc cao hơn là Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông. Về hình thức văn kiện này có thể có thể dưới dạng một Hiệp ước, hoặc một Hiệp định, hoặc một Thỏa thuận, hoặc cũng có thể là một MOU giữa ASEAN và Trung Quốc được các đại diện có thẩm quyền của ASEAN và Trung Quốc ký, sau đó được các cơ quan có thẩm quyền của ASEAN và Trung Quốc phê duyệt.      Tôn trọng các nguyên tắc cơ bản (các nguyên tắc just cogent) của pháp luật quốc tế, tôn trọng Hiến chương Liên hợp quốc, tôn trọng các quy định của Công ước Luật Biển năm 1982, giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình, thực hiện đầy đủ các cam kết trong DOC, tiến tới xây dựng Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông, cùng chung sức theo hướng biến Biển Đông thành vùng biển hòa bình, hữu nghị và hợp tác chính là chìa khóa cho các vấn đề phức tạp ở Biển Đông hiện nay./.     PV (Vietnam+)  
</content> 
</entry> 
 
 <entry> 
 <id>tag:www.vnweblogs.com,2011-04-26:294147</id>
 <title>Chiến thuật mập mờ của Trung Quốc ở Biển Đ&amp;ocirc;ng</title> 
 <link rel="alternate" type="text/html" href="http://dean165.vnweblogs.com/post/14795/294147" /> 
  
 <updated>2011-04-26T07:54:26+07:00</updated> 
 <summary type="text">      Trong khi Philippin phản đối đích danh đường đứt khúc 9 đoạn thì Công hàm Trung Quốc không có một chữ nào nói đến đường trên ngoài câu: &amp;quot;Chủ ...</summary> 
 <author> 
  
 <name>dean165</name> 
</author> 
<dc:subject>
Sinh nhật chúng ta 
</dc:subject> 
 <content type="text" xml:lang="vn" xml:base="http://dean165.vnweblogs.com"> 
       Trong khi Philippin phản đối đích danh đường đứt khúc 9 đoạn thì Công hàm Trung Quốc không có một chữ nào nói đến đường trên ngoài câu: &quot;Chủ quyền, các quyền và quyền tài phán liên quan của Trung Quốc tại Biển Nam Trung Hoa được hỗ trợ bằng các bằng chứng lịch sử và pháp lý phong phú&quot;.       Ngày 14/4/2011 Phái đoàn thường trực của CHND Trung Hoa tại Liên hợp quốc đã gửi Công hàm tới Tổng Thư ký Liên hợp quốc phản đối Công hàm số 000228 ngày 5/4/2011 của Philippin về đường yêu sách 9 đoạn (đường lưỡi bò) của Trung Quốc ở Biển Đông. Trước đó ngày 10/4/2011 Người phát ngôn BNG Trung Quốc cho rằng Công hàm của Philippin là không thể chấp nhận.   Các nước chịu sức ép của Trung Quốc đã mạnh bạo hơn     Lâu nay các nước có tranh chấp ở Biển Đông phản đối nhau là chuyện bình thường nhưng cuộc &quot;phản pháo&quot; Trung-Phi lần này cho thấy xu hướng trong hai năm gần đây 2009-2011 các nước sử dụng vũ đài Liên hợp quốc ngày càng thường xuyên và đường lưỡi bò ngày càng bị nhiều nước lên tiếng phản đối. Tranh luận &quot;công hàm&quot; Trung - Phi ngay trước thềm chuyến thăm chính thức Bắc Kinh của TT Philippin dự kiến 23-25/5/2011 cho thấy sự mạnh bạo hơn của các nước chịu nhiều sức ép kinh tế-chính trị của Trung Quốc như Philippin và khả năng có một giải pháp cho tranh chấp còn đầy khó khăn.    Công hàm ngày 14/4/2011 của Trung Quốc gồm ba đoạn chính:    -&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160; Khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi của Trung Quốc đối với các đảo trong biển Nam Trung Hoa và các vùng nước kế cận, và được hưởng quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng nước liên quan cũng như đáy biển và lòng đất dưới đáy của chúng. Chủ quyền, các quyền và quyền tài phán liên quan của Trung Quốc tại Biển Nam Trung Hoa được hỗ trợ bằng các bằng chứng lịch sử và pháp lý phong phú. Nội&#160; dung Công hàm số 000228 ngày 5/4/2011 của Philippin là hoàn toàn không thể chấp nhận đối với Chính phủ Trung Quốc.    -&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160; Cái gọi là Nhóm đảo Kalayyan KIG mà Philippin yêu sách thực tế là một phần quần đảo Nam Sa của Trung Quốc. Trong hàng loạt các Hiệp ước quốc tế xác định giới hạn lãnh thổ của CH Philippin và pháp luật quốc gia của CH Philippin cho đến trước những năm 1970s chưa bao giờ yêu sách quần đảo Nam Sa hoặc bất kỳ một phần nào của quần đảo. Từ những năm 1970s, CH Philippin bắt đầu xâm lược và chiếm đóng một số đảo và đá thuộc quần đảo Nam Sa của Trung Quốc và đưa ra những yêu sách lãnh thổ liên quan mà Trung Quốc cực lực phản đối. Việc chiếm đóng một số đảo và đá của quần đảo Nam Sa Trung Quốc cũng như các hành vi liên quan khác đã xâm phạm chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc.           Ảnh minh họa: THX      Theo học thuyết pháp lý &quot;ex injuria jus non oritus&quot; [1] , CH Philippin không có cách nào viện dẫn sự chiếm đóng bất hợp pháp đó để hậu thuẫn cho các yêu sách lãnh thổ của họ. Hơn nữa theo nguyên tắc pháp lý &quot;Đất thống trị biển&quot;, yêu sách vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của quốc gia ven biển không thể làm xâm hại đến chủ quyền lãnh thổ của quốc gia khác.    -&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160; Từ những năm 1930s Chính phủ Trung Quốc đã nhiều lần công bố phạm vi địa lý quần đảo Nam Sa và tên các thành phần&#160; của chúng. Quần đảo Nam Sa do đó đã được xác định rõ ràng. Hơn nữa, theo các điều khoản liên quan của Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 cũng như Luật của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa về Lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải (1992), Luật về vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (1998), quần đảo Nam Sa hoàn toàn có các vùng lãnh hải, đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.    Về mặt cấu trúc Công hàm, Phái đoàn Trung Quốc cũng đưa ra ba đọan đối với ba đoạn trong Công hàm của Philippins. Đoạn 1 cả hai bên đều khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi của mình. Đoạn 2 tranh luận về các nguyên tắc pháp lý &quot;Đất thống trị biển&quot; và &quot;Không xâm phạm&quot;. Đoạn 3 cả hai bên đều dựa vào Luật biển để xác định quy chế các đảo đá.     Trung Quốc tự mâu thuẫn mình     Về nội dung, trong khi Philippin lập luận theo Luật biển thì những đường như đường đứt khúc 9 đoạn là không có cơ sở theo luật quốc tế, đặc biệt là Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển 1982 (UNCLOS) thì Trung Quốc lại nhắc đến các quyền lịch sử và tìm cách làm hài hòa giữa quyền lịch sử với Luật biển hiện đại bằng cách tuyên bố quần đảo Nam Sa hoàn toàn có các vùng lãnh hải, đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Đây có thể coi là một điểm mới nếu chú ý ngôn từ trong Công hàm lần này khác hẳn với những tuyên bố khuôn mẫu trước kia: &quot; Nam Sa quần đảo là một phần lãnh thổ Trung Hoa từ thời xa xưa và Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi đối với quần đảo cũng như các vùng biển xung quanh nó &quot;.    Trong khi Philippin phản đối đích danh đường đứt khúc 9 đoạn thì Công hàm Trung Quốc không có một chữ nào nói đến đường trên ngoài câu: &quot; Chủ quyền, các quyền và quyền tài phán liên quan của Trung Quốc tại Biển Nam Trung Hoa được hỗ trợ bằng các bằng chứng lịch sử và pháp lý phong phú &quot;. Nếu cứ như Công hàm thì &quot; Từ những năm 1930s Chính phủ Trung Quốc đã nhiều lần công bố phạm vi địa lý quần đảo Nam Sa và tên các thành phần&#160; của chúng. Quần đảo Nam Sa do đó đã được xác định rõ ràng &quot;. Các khái niệm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa lúc đó còn chưa tồn tại.    So sánh Công hàm ngày 7/5/2009 và Công hàm ngày 14/4/2011 của Phái đoàn Trung Quốc lại càng thấy hai Công hàm này mâu thuẫn nhau. Công hàm ngày 7/5/2009 đòi hỏi &quot; đối với chủ quyền không thể tranh cãi của Trung Quốc trên các đảo trong Biển Nam Trung Hoa và các vùng nước kế cận, cũng như các quyền chủ quyền và tài phán đối với các vùng nước, vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của chúng (xem bản đồ kèm theo) &quot; tức theo đường lưỡi bò. Công hàm ngày 14/4/2011 thì lờ đường lưỡi bò đi mà cho rằng quần đảo Nam Sa có lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa theo Công ước Luật biển UNCLOS.    Nếu phạm vi địa lý của quần đảo Nam Sa là đường lưỡi bò thì có chuyện ngược đời là đi xác định các vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa bên trong vùng nước mà Bắc Kinh coi như là nội thủy. Hay các đảo trong quần đảo Nam Sa mà Trung Quôc yêu sách có vùng lãnh hải, đặc quyền kinh tế và thềm lục địa nhưng không vượt quá phạm vi đường lưỡi bò? Hay cả quần đảo Nam Sa được coi là một tổng thể để đòi hỏi vùng lãnh hải, đặc quyền kinh tế hoặc thềm lục địa như một quốc gia quần đảo? Hay phạm vi địa lý quần đảo Nam Sa là đường lưỡi bò và sẽ tiếp tục đòi hỏi từ đó 200 hải lý đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.    Cứ theo lập luận này thì cả thành phố Hồ Chí Minh, Manila và Kuala Lumpur rồi tới Natura đều rơi vào vòng ảnh hưởng của đường lưỡi bò và &quot;các vùng biển liên quan. Đường lưỡi bò của Trung Quốc từ 11 đoạn rồi 9 đoạn, từ yêu sách bao gộp cả Tây Sa (Hoàng Sa của Việt Nam), Trung Sa (bãi ngầm Macclefield), Nam Sa (Trường Sa của Việt Nam) bây giờ lại coi là phạm vi địa lý của quần đảo Nam Sa.    Không ai có thể hiểu được các Công hàm này trừ khi tác giả của nó giải thích. Việc hai Công hàm trong vòng hai năm có những nội dung mâu thuẫn nhau&#160; cho thấy chính bản thân người Trung Quốc còn lẫn lộn và đang tự mâu thuẫn với chính mình, không biết giải thích thế nào về đường lưỡi bò cho có lý. Hay đây là một sự cố tình lẫn lộn, áp dụng một cách tùy tiện lúc theo luật biển, lúc theo yêu sách lịch sử mơ hồ theo kiểu&#160; chiến thuật &quot;mèo trắng mèo đen miễn là bắt được chuột&quot;. Một chiến thuật mập mờ thường hay được sử dụng để buộc dư luận phải &quot;tin&quot; vào những điều vô lý?&#160;   Lập trường không nhất quán, chỉ sử dụng sức mạnh, nói lấy được thật khó gây được lòng tin và hình ảnh tốt đẹp trong cộng đồng quốc tế.      Rõ ràng, việc tự vẽ một đường yêu sách không đáp ứng bất kỳ một tiêu chuẩn pháp lý hay kỹ thuật nào để yêu sách chủ quyền các đảo trong đó rồi tiếp tục đòi hỏi các vùng biển liên quan là sự cố tình áp dụng sai nguyên tắc &quot;Đất thống trị biển&quot;. Hơn nữa cũng nên nhắc lại rằng Công hàm ngày 29/9/1932 của phái đoàn ngoại giao Trung Quốc tại Paris còn tuyên bố các đảo Tây Sa &quot; tạo thành cực nam của lãnh thổ Trung Quốc &quot; [2] . Vậy làm sao có thể nói như trong Công hàm ngày 14/4/2011 là &quot; Từ những năm 1930s Chính phủ Trung Quốc đã nhiều lần công bố phạm vi địa lý quần đảo Nam Sa và tên các thành phần&#160; của chúng &quot;. Cũng không thể nói bằng chứng lịch sử và pháp lý tại đây vì Việt Nam mới là quốc gia có những bằng chứng về hoạt động Nhà nước của Đội Hoàng Sa sớm nhất trong khu vực quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.    Khác với Philippin sử dụng khái niệm các &quot;đặc trưng địa chất&quot; [3]  (được hiểu bao gồm đảo, đá và bãi cạn nửa nổi nửa chìm - islands, rocks, reefs and shoals), Công hàm Trung Quốc lần này chỉ nói đến &quot;chủ quyền không thể tranh cãi của Trung Quốc đối với các đảo (islands) trong biển Nam Trung Hoa và các vùng nước kế cận&quot;. Trong đoạn 2 khi nhắc đến sự xâm lược của CH Philiipin, Công hàm có dùng thuật ngữ &quot;đảo và đá&quot; (islands and reefs) nhưng khác với Philippin đề xuất áp dụng điều 121.3 của UNCLOS về quy chế đảo hay đá thì Công hàm của Trung Quốc cho rằng &quot;quần đảo Nam Sa hoàn toàn có các vùng lãnh hải, đặc quyền kinh tế và thềm lục địa&quot;. Phái đoàn Trung Quốc tại Liên hợp quốc cũng yêu sách &quot; được hưởng quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng nước liên quan cũng như đáy biển và lòng đất dưới đáy của chúng &quot;. Điều này được củng cố thêm bằng viễn dẫn trong đoạn 3 về &quot; các điều khoản liên quan của Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 cũng như Luật của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa về Lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải (1992), Luật về vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (1998 )&quot;.&#160; Liệu có phải Trung Quốc cho rằng dù đảo hay đá thì các đảo đá ở Trường Sa đều có vùng lãnh hải, đặc quyền kinh tế và thềm lục địa? Vậy UNCLOS (điều 121.3) ở đây có giá trị gì với các quốc gia thành viên?     Phớt lờ luật Biển     Cũng nên nhắc lại ở đây Công hàm ngày 8/7/2010 của Indonesia, một nước không tranh chấp gì ở Biển Đông [4]  đã đưa ra những bằng chứng về quan điểm chính thống của các đại diện Trung Quốc phát biểu tại các diễn đàn về Công ước luật biển năm 1982 về quy chế của các đảo đá không người ở hoặc không có đời sống kinh tế riêng.    Tại khóa họp lần thứ 15 của Cơ quan quyền lực đáy đại dương tại Kingston, Jamaica tháng 6/2009, Đại sứ Chen Jinghua, Trưởng đoàn đại biểu Trung Quốc đã tuyên bố:  &quot;Yêu sách vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa từ các đảo đá...là ảnh hưởng đến các nguyên tắc của Công ước Luật biển và đến quyền lợi chung của cộng đồng quốc tế&quot; . Trưởng đoàn Trung Quốc còn viện dẫn lời của Đại Sứ Avid Pardo (người đã đưa ra khái niệm vùng đáy biển di sản chung của loài người trong Công ước Luật biển) để lời tuyên bố của mình thêm sức mạnh :  &quot;...nếu quyền tài phán 200 hải lý được dựa trên quyền sở hữu các đảo không người ở, xa xôi hoặc rất nhỏ thì hiệu quả của việc quản lý quốc tế các vùng đại dương bên ngoài quyền tài phán quốc gia sẽ bị tổn hại nặng nề&quot; . Tuyên bố của Phái đoàn Trung Quốc tại Hội nghị các nước thành viên Liên hợp quốc lần thứ 19 từ ngày 22-26/6/2009 tại New York cũng khẳng định  &quot;theo điều 121 của Công ước Luật biển, các đảo đá không thích hợp cho con người ở hoặc không có một đời sống kinh tế riêng không có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa riêng&quot; .    Những lời tuyên bố của các đại diện toàn quyền của Trung Quốc tại các diễn đàn quốc tế chỉ có thể được hiểu là chúng cũng được áp dụng phù hợp với tình hình Biển Đông và các đảo đá nhỏ không người ở hoặc không có đời sống kinh tế riêng trong Biển Đông cũng không có quyền được có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Việc cho phép sử dụng các đảo đá không người ở, ở xa lục địa và nằm giữa biển như điểm cơ sở để đòi hỏi các vùng biển là tổn hại các nguyên tắc cơ bản của Công ước luật biển cũng như xâm phạm đến các quyền lợi chính đáng của cộng đồng quốc tế. Phái đoàn thường trực của Indonesia tại Liên hợp quốc kết luận bản đồ đường đứt khúc 9 đoạn trong Công hàm ngày 7/5/2009 của Phái đoàn thường trực của Trung Quốc tại Liên hợp quốc hoàn toàn không có căn cứ pháp lý quốc tế và đi ngược lại với các quy định của Công ước luật biển 1982.    Trong Biển Hoa Đông, với Nhật Bản là một nước lớn, Trung Quốc đòi các đá chỉ có lãnh hải 12 hải lý. Trong Biển Đông, giữa các nước nhỏ, yếu, Bắc Kinh đòi cả quần đảo có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Cộng đồng quốc tế buộc phải đặt câu hỏi liệu có chính sách phân biệt đối xử mà không cần phải dựa vào luật biển không hay Trung Quốc có một tiêu chuẩn kép về quy chế các đâỏ đá? Thực tiễn quốc tế và các phán quyết của các Tòa án và Trọng tài quốc tế&#160; cho thấy các đảo đá có những điều kiện tương tự như các đảo đá trong Biển Đông, nếu áp dụng đúng điều 121.3 của UNCLOS thì chỉ được hưởng các vùng biển không mở rộng quá mức, ảnh hưởng đến quyền lợi của các quốc gia ven biển, ảnh hưởng an ninh hàng hải, hàng không của cộng đồng quốc tế, tiếp tục duy trì nguy cơ xung đột ở mức cao. Về quy mô, kích thước, điều kiện sinh sống hay đời sống kinh tế riêng chúng cũng không thể được coi có cùng hiệu lực pháp lý trong phân định với lãnh thổ đất liền.    Công hàm Trung Quốc kết tội Philippin đã &quot;xâm lược&quot; các đảo và đá của quần đảo Nam Sa thuộc Trung Quốc [5]  nên không thể viện dẫn nguyên tắc &quot;Đất thống trị biển&quot; để đòi hỏi quyền chủ quyền đối với các vùng biển kế cận. Trung Quốc dẫn học thuyết pháp lý &quot;ex injuria jus non oritus&quot; để cho rằng CH Philippin không có cách nào viện dẫn sự chiếm đóng bất hợp pháp đó để hậu thuẫn cho các yêu sách lãnh thổ của họ.    Theo định nghĩa của luật quốc tế, xâm lược là một hành vi sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Vậy việc sử dụng vũ lực bất hợp pháp các năm 1974, 1988 và 1995 để chiếm đoạt các đảo đá đã có chủ để hậu thuẫn cho các yêu sách lãnh thổ có nên được áp dụng học thuyết pháp lý &quot;ex injuria jus non oritus&quot; không ? Khi công hàm ngoại giao tuyên bố &quot; theo nguyên tắc pháp lý &quot;Đất thống trị biển&quot;, yêu sách vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của quốc gia ven biển không thể làm xâm hại đến chủ quyền lãnh thổ của quốc gia khác &quot;, Phái đoàn thường trực của Trung Quốc tại Liên hợp quốc cũng cố tình quên mất sự thật là các yêu sách theo Luật của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa về Lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải (1992), Luật về vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (1998)&quot; đang xâm hại đến các vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của các quốc gia ven biển theo Luật biển UNCLOS&#160; cũng như chủ quyền lãnh thổ của quốc gia khác đã thực hiện chiếm hữu thực sự, hòa bình, không có tranh chấp trong thời gian dài trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Hơn nữa, thật khó có thể chấp nhận viện dẫn luật quốc gia để giải quyết một tranh chấp quốc tế.    Công hàm của Trung Quốc lần này có tính răn đe, cứng rắn. Nó báo hiệu một cuộc chiến pháp lý mới trên Biển Đông. Công hàm không làm cho người đọc hiểu rõ thêm về lập trường pháp lý của Trung Quốc đối với vấn đề Biển Đông, về cách hiểu đường lưỡi bò ngoài việc phái đoàn Trung Quốc chính thức yêu sách quần đảo Trường Sa có vùng lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.    Ngược lại nó cho thấy một sự mập mờ cố ý, sử dụng cả những yêu sách lịch sử chưa được kiểm chứng lẫn luật biển hiện đại một cách tùy tiện để bảo vệ một yêu sách quá đáng.&#160; Giống như một thủ tục trước câc cơ quan tài phán quốc tế, các bên lần lượt chính thức thể hiện quan điểm của mình về chủ quyền, về quy chế đảo trước Liên hợp quốc. Cộng đồng quốc tế đã có tương đối dữ liệu để thể hiện quan điểm của mình. Dù còn có những khác biệt, trong tất cả các Công hàm đã trình lên Liên hợp quốc về vấn đè này đều&#160; có một điểm chung không thể phủ nhận: các bên đều viện dẫn UNCLOS, nguyên tắc &quot;Đất thống trị biển&quot; dù cách giải thích và áp dụng còn khác nhau. Cả hai Công hàm đều vi phạm chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đã đến lúc các bên phải thực sự ngồi với nhau, xây dựng sự tin cậy và hiểu biết lẫn nhau, giải quyết hòa bình các tranh chấp, phù hợp với Luật quốc tế và UNCLOS.        [1]  &quot;ex injuria jus non oritur,&quot; or &quot;a right cannot arise from a wrong doing.&quot; Có nghĩa là Một người không thể dựa vào hành vi vi phạm trước đây của mình để đòi hỏi những quyền hợp pháp khác, Nói một cách khác &quot;cái đúng không thể nảy sinh từ cái xấu&quot;     [2]  Nguyen Hong Thao,  Le Vietnam et ses differends maritimes dán la Mer de Bien Dong (Mer de Chine meridionale),  Pedone, France 2004, p. 232.     [3]  Bản dịch trên Nghiên cứu Biển Đông sử dụng thuật ngữ hình thái địa chất. http://1371-cong-ham-ca-phi-lip-pin-phn-i-ng-li-bo-ca-trung-quc-ban dich NCBD.htm ngày 18/4/2011     [4]  Việt Long, &quot;Sự vô lý của đường lưỡi bò trong Biển Đông - Indonesia lên tiếng&quot;,  Tuần Việt Nam , ngày 27/7/2010.     [5]  &quot;China accuses PH of invasion&quot;, Tessa Jamandre | VERA Files, http://vera/china-accuses-ph-'invasion'.htm     Việt Long     [Nguồn: Tuanvietnam]  
</content> 
</entry> 
 
 <entry> 
 <id>tag:www.vnweblogs.com,2011-04-25:294037</id>
 <title>B&amp;aacute;n đỉa sang Trung Quốc: Đừng v&amp;igrave; lợi &amp;iacute;ch trước mắt!</title> 
 <link rel="alternate" type="text/html" href="http://dean165.vnweblogs.com/post/14795/294037" /> 
  
 <updated>2011-04-25T16:07:26+07:00</updated> 
 <summary type="text">      Nhiều tháng nay, khắp các tỉnh như Lào Cai, Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên… rộ lên “cơn sốt” đỉa. Đỉa được được mua với giá hời làm nông ...</summary> 
 <author> 
  
 <name>dean165</name> 
</author> 
<dc:subject>
Tin tức 
</dc:subject> 
 <content type="text" xml:lang="vn" xml:base="http://dean165.vnweblogs.com"> 
       Nhiều tháng nay, khắp các tỉnh như Lào Cai, Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên… rộ lên “cơn sốt” đỉa. Đỉa được được mua với giá hời làm nông dân ra sức bắt và có ý định nuôi với số lượng lớn. Sự việc bắt nguồn từ thông tin thương lái Trung Quốc đang tích cực thu mua đỉa về làm thuốc. Thực tế, đỉa là một trong những loài gây hại, nếu không được kiểm soát về số lượng sẽ gây họa như ốc bươu vàng, rùa tai đỏ...    Câu chuyện buôn bán đỉa sang Trung Quốc kiếm bạc triệu đang khiến dư luận sửng sốt, còn các nhà khoa học, các chuyên gia cảnh báo rằng nếu phong trào này lan rộng, hậu quả sẽ khó lường.    Giới truyền thông Trung Quốc cho hay, thời điểm hiện tại ở nước này đỉa là mặt hàng có lợi nhuận cao nhất. Vào cuối năm 2009, giá đỉa là 280 tệ/kg, song vào đầu tháng 4.2010, người ta phải chi 500 tệ để mua, còn hiện tại giá khoảng 800 tệ/kg.     Theo tìm hiểu của NTNN hiện nay phía đối tác Trung Quốc liên tục thúc giục các thương lái Việt Nam cung cấp hàng, tuy nhiên theo những thương lái thu mua đỉa như chị Thuỷ (Hải Phòng), chị Thanh (Lào Cai), khó khăn là họ chưa đủ khả năng để có thể thu gom hàng và cung cấp ổn định cho đối tác Trung Quốc với số lượng từ 400-500kg đỉa khô mỗi lần.  Sau khi có thông tin đỉa được thu mua với giá trên 1 triệu đồng một kg, ở nhiều nơi thuộc các tỉnh phía Bắc và cả miền Trung, nông dân thi nhau đi bắt đỉa. Thậm chí nhiều người còn cho biết: “Nếu đỉa được mua với giá cao như vậy thì chúng tôi có thể lập trại nuôi đỉa, vì ngoài tự nhiên gần như là cạn kiệt rồi”. Anh Lê Anh Tuấn ở huyện Mộc Châu, Sơn La cho biết: anh làm giáo viên ở Trường THCS Liên Hoà. Ở quanh chỗ anh sống vẫn còn rất nhiều đỉa. Nay nghe được thông tin này, anh có ý tưởng vận động người dân bắt đỉa; khi bắt hết rồi thì sẽ nuôi để cung ứng.                 Dư luận chỉ nghe đồn đỉa thu mua làm thuốc chứ không biết rõ thực hư như thế nào. (Ảnh minh họa)            Khi được hỏi về khả năng nuôi đỉa để cung cấp cho thương lái và đại lý thu mua đỉa, nhiều người dân đăng ký cung cấp đỉa trên mạng đều khẳng định nếu bắt hết đỉa mà chưa đáp ứng được nhu cầu của thương lái thì họ sẽ chuyển sang nuôi đỉa vì đỉa dễ sống dễ nuôi và sinh sản nhanh.    Nông dân Phan Anh Cường ở huyện Quảng Trạch, Quảng Bình cho hay: “Ở quê tôi đỉa nhiều vô kể, nếu thương lái thu mua cần số lượng lớn và đảm bảo thu mua dài lâu chắc chúng tôi sẽ tính đến chuyện nuôi đỉa đem bán, mỗi kg đỉa giá 1,5 - 2 triệu đồng, tội gì chúng tôi không làm”.     Đứng trước nguy cơ người dân sẽ ồ ạt tổ chức nuôi đỉa để cung cấp cho Trung Quốc, Hội Động vật học Việt Nam cho rằng: Đỉa là loài rất dễ sinh sôi nảy nở trong mọi điều kiện trong khi đó tiêu diệt đỉa lại vô cùng khó khăn. Hội này cảnh báo, nếu vì thấy lợi trước mắt người dân sẽ thi nhau nuôi đỉa để bán, rồi khi thương lái không thu mua nữa, vậy xử lý như thế nào? Trường hợp xấu, nếu không kiểm soát được, một lượng lớn đỉa tràn ra môi trường tự nhiên thì lúc đó hậu hoạ sẽ không thể tính hết được.     Thực tế, hiện nay nhu cầu thu mua đỉa lớn hơn rất nhiều so với nguồn cung, do đó để cung cấp với số lượng lớn không loại trừ khả năng ng¬ười dân sẽ tổ chức nuôi đỉa.     Viện trưởng Viện Sinh Thái và Tài nguyên sinh vật (Viện KHCN VN) - PGS.TS Lê Xuân Cảnh cho hay: “Người dân hay làm theo phong trào, theo đám đông vì lợi ích kinh tế trước mắt, mà không nghĩ đến hậu quả phía sau. Nếu người dân nuôi đỉa tràn lan không kiểm soát sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến cân bằng môi trường sinh thái. Muốn tiêu huỷ đỉa cần phải ngâm cồn rồi đốt thì đỉa mới chết hẳn. Còn các phương pháp như chặt chỉ càng khiến loài này sinh sản nhanh hơn”.     Trong Đông Y đỉa được coi là bài thuốc tác dụng thông máu, tan vết bầm, sưng, giải máu ứ đọng...tuy nhiên, các loại thuốc có thành phần từ đỉa phải được làm rất cẩn thận vì chúng rất nguy hiểm nếu sơ suất, tự ý dùng bừa bãi sẽ gây những tác hại khôn lường. Nếu trong quá trình đốt đỉa không kỹ, khi người bệnh uống, tế bào còn sót lại sẽ sinh trưởng và lớn lên thành con đỉa ở trong người bệnh&quot;.   
</content> 
</entry> 
 
 <entry> 
 <id>tag:www.vnweblogs.com,2011-04-20:293060</id>
 <title>Ki&amp;ecirc;n tr&amp;igrave; xem x&amp;eacute;t, giải quyết thỏa đ&amp;aacute;ng vấn đề Biển Đ&amp;ocirc;ng</title> 
 <link rel="alternate" type="text/html" href="http://dean165.vnweblogs.com/post/14795/293060" /> 
  
 <updated>2011-04-20T15:01:51+07:00</updated> 
 <summary type="text"> Chiều 19/4, tại Trụ sở Ch&amp;iacute;nh phủ, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đ&amp;atilde; tiếp Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Trung Quốc Trương Ch&amp;iacute; Qu&amp;acirc;n, Trưởng ...</summary> 
 <author> 
  
 <name>dean165</name> 
</author> 
<dc:subject>
Tin tức 
</dc:subject> 
 <content type="text" xml:lang="vn" xml:base="http://dean165.vnweblogs.com"> 
  Chiều 19/4, tại Trụ sở Ch&iacute;nh phủ, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đ&atilde; tiếp Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Trung Quốc Trương Ch&iacute; Qu&acirc;n, Trưởng đo&agrave;n đ&agrave;m ph&aacute;n cấp Ch&iacute;nh phủ Trung Quốc về bi&ecirc;n giới l&atilde;nh thổ đang c&oacute; chuyến c&ocirc;ng t&aacute;c tại Việt Nam. 
   
 Ảnh: Chinhphu.vn 
 Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đ&aacute;nh gi&aacute; cao kết quả thảo luận giữa Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Trương Ch&iacute; Qu&acirc;n v&agrave; Thứ trưởng Ngoại giao Việt Nam Hồ Xu&acirc;n Sơn, Trưởng đo&agrave;n đ&agrave;m ph&aacute;n bi&ecirc;n giới l&atilde;nh thổ của Việt Nam. 
  
 &nbsp; 
 Thủ tướng cho đ&acirc;y l&agrave; bước tiến mới, g&oacute;p phần t&iacute;ch cực v&agrave;o việc th&uacute;c đẩy quan hệ hợp t&aacute;c nhiều mặt giữa hai nước, đồng thời mong muốn hai b&ecirc;n sẽ t&iacute;ch cực triển khai tr&ecirc;n thực tế những kết quả đạt được trong thảo luận lần n&agrave;y. 
 Thủ tướng cho biết, Việt Nam vui mừng thấy quan hệ hợp t&aacute;c đối t&aacute;c chiến lược to&agrave;n diện Việt Nam &ndash; Trung Quốc ph&aacute;t triển hết sức mạnh mẽ, mang lại lợi &iacute;ch thiết thực cho cả hai b&ecirc;n. 
 Đảng v&agrave; Nh&agrave; nước Việt Nam lu&ocirc;n coi trọng v&agrave; sẽ nỗ lực hết m&igrave;nh c&ugrave;ng với ph&iacute;a Trung Quốc tiếp tục đưa quan hệ hợp t&aacute;c đối t&aacute;c chiến lược to&agrave;n diện&nbsp; Việt Nam &ndash; Trung Quốc ng&agrave;y c&agrave;ng đi v&agrave;o chiều s&acirc;u, thiết thực v&agrave; hiệu quả. 
 Trao đổi về vấn đề bi&ecirc;n giới l&atilde;nh thổ, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho rằng, việc giải quyết vấn đề về bi&ecirc;n giới tr&ecirc;n bộ giữa hai nước đ&atilde; đạt được những kết quả c&oacute; &yacute; nghĩa lớn. C&ocirc;ng việc chung đặt ra với đối với hai nước hiện nay l&agrave; cần đẩy mạnh trao đổi, đ&agrave;m ph&aacute;n để c&oacute; thể đi tới việc k&yacute; kết c&aacute;c hiệp định hợp t&aacute;c kinh tế, du lịch ở c&aacute;c điểm tr&ecirc;n to&agrave;n tuyến bi&ecirc;n giới. 
 Li&ecirc;n quan đến c&aacute;c vấn đề về Biển Đ&ocirc;ng, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho rằng, tr&ecirc;n cơ sở nhận thức chung của l&atilde;nh đạo cấp cao hai nước, tr&ecirc;n tinh thần &ldquo;vừa l&agrave; đồng ch&iacute;, vừa l&agrave; anh em&rdquo;, tr&ecirc;n cơ sở Tuy&ecirc;n bố về c&aacute;ch ứng xử của c&aacute;c b&ecirc;n ở Biển Đ&ocirc;ng (DOC) v&agrave; kinh nghiệm trong việc xem x&eacute;t, giải quyết vấn đề về bi&ecirc;n giới l&atilde;nh thổ tr&ecirc;n bộ, hai nước cần tiếp tục ki&ecirc;n tr&igrave; đ&agrave;m ph&aacute;n trong việc xem x&eacute;t, giải quyết thỏa đ&aacute;ng về vấn đề Biển Đ&ocirc;ng. 
 Theo Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, tr&ecirc;n thực tế, trong những năm qua, hai nước đ&atilde; t&iacute;ch cực hợp t&aacute;c trong giải quyết về vấn đề n&agrave;y. H&ograve;a b&igrave;nh, ổn định ở khu vực Biển Đ&ocirc;ng lu&ocirc;n được giữ vững, khoảng c&aacute;ch về những nhận thức c&ograve;n kh&aacute;c biệt đang dần được thu hẹp... 
 Thủ tướng b&agrave;y tỏ tin tưởng, tr&ecirc;n tinh thần đồng ch&iacute;, hai b&ecirc;n sẽ tiếp tục lắng nghe &yacute; kiến của nhau để từng bước đạt được những kết quả đ&agrave;m ph&aacute;n về vấn đề tr&ecirc;n biển. Trong bất kỳ ho&agrave;n cảnh n&agrave;o khi xem x&eacute;t, giải quyết vấn đề Biển Đ&ocirc;ng cũng kh&ocirc;ng l&agrave;m ảnh hưởng tới t&igrave;nh cảm hữu nghị Việt - Trung cũng như kh&ocirc;ng để kẻ xấu lợi dụng để k&iacute;ch động, chia rẽ quan hệ hợp t&aacute;c tốt đẹp giữa hai nước. 
 Tại buổi tiếp, Thứ trưởng Trương Ch&iacute; Qu&acirc;n đ&atilde; chuyển lời thăm hỏi v&agrave; lời ch&uacute;c tốt đẹp nhất của Thủ tướng Trung Quốc &Ocirc;n Gia Bảo tới Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. 
 Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Trương Ch&iacute; Qu&acirc;n cũng th&ocirc;ng b&aacute;o với Thủ tướng một số nội dung ch&iacute;nh trong cuộc thảo luận với Thứ trưởng Bộ Ngoại giao nước ta Hồ Xu&acirc;n Sơn, trong đ&oacute; c&oacute; những kết quả đạt được về việc hai nước sẽ tăng cường hợp t&aacute;c về kinh tế ở khu vực bi&ecirc;n giới, đồng thời c&ugrave;ng xem x&eacute;t những vấn đề c&ograve;n c&oacute; nhận thức kh&aacute;c biệt về Biển Đ&ocirc;ng. 
 Nhấn mạnh c&ocirc;ng t&aacute;c ph&acirc;n giới cắm mốc giữa Trung Quốc v&agrave; Việt Nam đ&atilde; đạt được kết quả tốt đẹp, Thứ trưởng Trương Ch&iacute; Qu&acirc;n cho rằng, vấn đề đặt ra đối với hai nước hiện nay l&agrave; việc xem x&eacute;t v&agrave; giải quyết những vấn đề c&ograve;n kh&aacute;c biệt về Biển Đ&ocirc;ng. 
 Thứ trưởng Trương Ch&iacute; Qu&acirc;n khẳng định sẽ tiếp tục c&ugrave;ng với ph&iacute;a Việt Nam trong việc xem x&eacute;t, giải quyết vấn đề Biển Đ&ocirc;ng để t&igrave;m ra những giải ph&aacute;p cơ bản, l&acirc;u d&agrave;i m&agrave; hai b&ecirc;n đều c&oacute; thể chấp nhận được khi xem, giải quyết về vấn đề n&agrave;y. 
 [Nguồn: Chinhphu.vn]  
</content> 
</entry> 
 
 <entry> 
 <id>tag:www.vnweblogs.com,2011-04-18:292608</id>
 <title>Trung Quốc v&amp;agrave; vấn đề bi&amp;ecirc;n giới với c&amp;aacute;c l&amp;aacute;ng giềng</title> 
 <link rel="alternate" type="text/html" href="http://dean165.vnweblogs.com/post/14795/292608" /> 
  
 <updated>2011-04-18T07:54:59+07:00</updated> 
 <summary type="text">  Việc hình thành biên giới với bất cứ quốc gia nào cũng là một quá trình lâu dài và đầy mâu thuẫn. Trung Quốc, tuy là nước lớn thứ ba thế giới, đang ...</summary> 
 <author> 
  
 <name>dean165</name> 
</author> 
<dc:subject>
Tin tức 
</dc:subject> 
 <content type="text" xml:lang="vn" xml:base="http://dean165.vnweblogs.com"> 
   Việc hình thành biên giới với bất cứ quốc gia nào cũng là một quá trình lâu dài và đầy mâu thuẫn. Trung Quốc, tuy là nước lớn thứ ba thế giới, đang phát triển năng động và nhanh chóng, nhưng cũng không phải là ngoại lệ trong vấn đề này.     Từng trải qua nhiều thay đổi theo mỗi triều đại với những biến động trong và ngoài nước, Trung Quốc thường xuyên thay đổi đường biên giới của mình trên bản đồ. Giờ đây, những vấn đề rất tự nhiên đang xuất hiện: Quá trình hình thành đường biên giới liệu có kết thúc vào đầu thế kỷ 21? Thay đổi sẽ xảy ra ở khu vực nào?       Với Nga     Lịch sử hình thành biên giới Nga - Trung kéo dài suốt từ cuối thế kỷ 17 đến đầu thế kỷ 20. Hiện nay, đường biên giới này kéo dài gần 4.000 km. Trong suốt 4 thế kỷ qua, đã có hàng chục hiệp định và nghị định thư được ký kết, bắt đầu từ Hiệp định Nerchin ký năm 1869. Đặc điểm chính trị của việc hình thành đường biên giới Nga -Trung là nó được thiết lập không phải nhờ những cuộc chiến tranh quy mô lớn, mà là qua các cuộc đàm phán ngoại giao, trong đó cả hai bên đều giành thắng lợi và chịu thua thiệt ngang nhau.    Quan hệ thân thiện Nga - Trung bị tan vỡ vào thập kỷ 60-70 của thế kỷ 20, khi giữa Trung Quốc và Liên Xô, nảy sinh những bất đồng lớn. Cũng thời điểm đó, Bắc Kinh đòi 1.540 km2 đất thuộc lãnh thổ Nga mà dường như &quot;Sa hoàng đã cướp của Trung Quốc trong thế kỷ 19&quot;. Các nhà sử học Trung Quốc cố công đưa ra luận thuyết về &quot;những vùng đất bị mất&quot; và &quot;món nợ nào đó&quot; của Nga đối với Trung Quốc, mà âm hưởng của nó đến ngày nay vẫn còn thấy rộ lên trong các công trình nghiên cứu, các ấn phẩm phát hành rộng rãi và thậm chí cả trong sách giáo khoa phổ thông.    Công thức mà ông tổ cải cách Đặng Tiểu Bình của Trung Quốc đưa ra - &quot;khép lại quá khứ, mở ra tương lai&quot; - không chỉ là điểm mấu chốt để bình thường hóa quan hệ Liên Xô (từ tháng 8/1991 là Liên bang Nga) - Trung Quốc, mà còn giải quyết những vấn đề biên giới lãnh thổ. Hiệp định ngày 16/5/1991 về vùng biên giới phía đông và hiệp định ngày 3/9/1994 về vùng biên giới phía tây là bước khởi đầu cho việc giải quyết thực tế những tranh chấp lãnh thổ. Tuyến biên giới đã được phân định trong những năm 1991-1999, còn văn bản được ký kết năm 1999. Theo đó, hai bên chỉ chưa nhất trí với nhau về hai trong tổng số 22 khu vực.    Hiệp ước Nga - Trung ký ngày 16/7/2001 đã góp phần vào việc giải quyết vấn đề biên giới giữa hai nước. Nội dung của hiệp ước ghi rõ: &quot;Hai bên không còn đòi hỏi lãnh thổ của nhau&quot; và mong muốn tiếp tục đàm phán về &quot;những khu vực còn chưa nhất trí&quot;. Trong lúc chờ giải quyết vấn đề, hai bên phải tuân thủ nguyên trạng, tức là theo pháp lý của Nga.    Hiện nay, những vấn đề biên giới còn tồn tại là đảo Lớn ở khu vực Abagatuia trên sông Argun và các đảo Tarabarov cùng đảo Lớn Ussuriski trên sông Amur, ngoại vi Khabarovsk. Đặc điểm địa lý của vấn đề thứ nhất là sông Argun ở khu vực Abagatuia có hai dòng chảy bao lấy đảo Lớn từ bắc xuống nam. Quan điểm của Nga nêu trong văn bản năm 1911 là biên giới phải tính theo dòng chảy nam. Còn theo Bắc Kinh, dòng chảy nam là của sông Hailar bắt nguồn từ Trung Quốc, tạo thành hai nhánh và đổ vào sông Argun. Do vậy, đường biên giới cần phải tính theo dòng chảy bắc sông Argun và toàn bộ đảo Lớn phải thuộc lãnh thổ Trung Quốc.    Khó khăn của việc hoạch định khu vực thứ hai cũng do giải thích khác nhau xung quanh các nhánh và các đảo. Những đảo tranh chấp nằm ở khu vực sông Ussuri chảy vào sông Amur, ở phần trên tạo thành nhánh Kazakevich. Nước Nga, dựa trên cơ sở hiệp định bổ sung Bắc Kinh 1860, đòi phải tính biên giới từ sông Amur đến nhánh Kazakevich, lượn theo đảo Tarabarov và đảo Lớn Usuriski từ phía nam. Trung Quốc nhất trí rằng theo hiệp định, biên giới chạy như vậy, nhưng lại nêu lý do tiêu chuẩn của luật quốc tế hiện nay là tuyến biên giới phân định phải theo đường cắm tiêu chính của sông (khu vực nước để tàu bè đi qua). Vì tàu bè không thể đi lại theo nhánh Kazakevich nên đường cắm tiêu chính cần phải đi qua biên giới phía bắc của các đảo, mà trong trường hợp này cũng phù hợp với pháp lý của Trung Quốc. Tuy nhiên, khác với các đảo không có người ở khu vực Abagatuia trên sông Argun, những đảo này có người ở và do gần với Khabarovsk nên có vị trí chiến lược. Nga đã đưa ra đề nghị thỏa hiệp: Giải quyết vấn đề biên giới trên sông Argun theo giả thiết của Trung Quốc, song đổi lại, ở khu vực ngoại vi Khabarovsk sẽ tiến hành phân định theo đề nghị của Nga. Rất tiếc, Trung Quốc chưa chấp nhận phương án đó.    Nói về biên giới Nga - Trung, người ta không thể bỏ qua những vấn đề chung. Vì về nguyên tắc, những thỏa hiệp của Nga chỉ có thể có lý khi &quot;làn sóng mới đòi hỏi lãnh thổ&quot; của Trung Quốc đối với Nga được dập tắt, nhất là phải tính tới yếu tố Trung Quốc sẽ thay đổi lãnh đạo trong năm nay và ở nước này, vẫn còn những phần tử mang tư tưởng chống Nga, cùng nhiều nhân tố tiêu cực khác.           Bản đồ đường biên giới của Trung Quốc.    Về mặt lý thuyết, không thể loại trừ khả năng Trung Quốc có chính sách công khai đòi lại &quot;những phần đất đã bị mất&quot;. Đồng thời, xuất phát từ thực tiễn hiện nay, cả hôm nay, ngày mai và trong tương lai xa hơn nữa, Nga không thể để Trung Quốc trở thành kẻ thù hay là một quốc gia trung lập nằm sát biên giới mình. Hơn nữa, những nhượng bộ từ năm 1991-1999 là có cơ sở và đã thúc đẩy quan hệ Nga - Trung lên tầm đối tác chiến lược.     Với Mông Cổ     Năm 1960, trong chuyến thăm chính thức Mông Cổ, Thủ tướng Chu Ân Lai gợi ý phía Trung Quốc tiến hành giải quyết các vấn đề biên giới với Mông Cổ. Những cuộc đàm phán song phương đã bắt đầu ở Ulan Bator từ tháng 10-11/1962. Nhiều tranh chấp không chỉ được giải quyết mà đôi bên còn chuẩn bị xong văn bản hiệp định biên giới. Tháng 12/1962, Trung Quốc - Mông Cổ ký hiệp định biên giới. Theo đó, dù Trung Quốc chiếm được một phần lãnh thổ Mông Cổ, nhưng bộ phận lãnh thổ truyền thống (Ngoại Mông) vẫn được giữ nguyên. Hơn nữa, Mông Cổ còn được cắt cho một phần lãnh thổ ở sa mạc Gobi. Từ đó tới nay, hai nước không hề đòi hỏi lãnh thổ của nhau. Đến tháng 4/2002, Ủy ban biên giới chung Trung - Mông sẽ tiến hành kiểm tra đường biên giới dài 4.677 km của hai nước và chế độ xuất nhập cảnh mới sẽ được thi hành trên các cửa khẩu.     Với các nước Trung Á     Quá trình phân định biên giới giữa Trung Quốc với các nước Trung Á mới giành chủ quyền diễn ra khá sôi động. Hiệp định về phân định đường biên giới dài 1.700 km giữa Trung Quốc và Kazakhstan vừa được ký kết tháng 4/1994 thì đến tháng 9/1995 đã có hiệu lực. Hiệp định biên giới bổ sung giữa hai bên ký ngày 4/7/1998 đã phân định rõ những khu vực còn tranh chấp ở khu vực sông Sarychildy, các đèo Chagan-Obo và Baimurza. Kết quả là một phần được gán cho Trung Quốc, còn một phần chuyển cho Kazakhstan.    Tháng 12/1999, trong chuyến thăm Trung Quốc của Tổng thống Kazakhstan Nursultan Nazarbaev, hiệp định biên giới giữa hai bên đã được ký kết tại Bắc Kinh. Với diễn biến này, quá trình đàm phán thực tế đã kết thúc và biên giới đã có quy chế pháp lý. Tuy nhiên, một số vấn đề vẫn chưa được giải quyết. Đó là dự định tăng thêm việc lấy nước ở sông Irtysh cho công nghiệp và nông nghiệp ở tỉnh Tân Cương của Trung Quốc có thể sẽ gây hậu quả nghiêm trọng đối với môi trường và kinh tế của Kazakhstan.    Ngày 4/7/1996, Hiệp định biên giới Trung Quốc - Kyrgyzstan đã được chuẩn bị. Sau nhiều lần thảo luận về khu vực đỉnh núi Han-Tengri, hai bên thống nhất thỏa hiệp: chia đều cho cả hai bên. Hiệp định đã được Tổng thống Kyrgyzstan và Chủ tịch Trung Quốc ký tại Bishkev trong cuộc gặp gỡ nguyên thủ quốc gia 5 nước trong Nhóm Thượng Hải ngày 24-26/8/1999. Hiện nay, quá trình phân định và cắm mốc đang được tiến hành trên đường biên giới dài 900 km của hai nước.    Cộng hòa Tajikistan và Trung Quốc có đường biên giới dài hơn 500 km, chủ yếu chạy theo dãy Sarykolski núi Pamir. Các cuộc đàm phán về từng khu vực biên giới giữa hai nước vẫn chưa kết thúc, mặc dù Tổng thống Emomali Rakhmanov và Chủ tịch Giang Trạch Dân đã ký một hiệp định biên giới tháng 8/1999. Hai bên đạt được thỏa thuận về việc phân đường biên giới dọc theo đèo Karazac và dọc theo sông Markanc. Khu vực biên giới phức tạp và nhức nhối trên núi Pamir phía nam đèo Uz-Bel vẫn còn chưa được giải quyết. Việc các nước Nga, Trung Quốc, Kyrgystan, Kazakhstan và Tajikistan tham gia Tổ chức Hợp tác Thượng Hải có ý nghĩa rất lớn trong việc giải quyết tích cực các vấn đề biên giới.     Với Ấn Độ     Đối với Trung Quốc, việc giải quyết vấn đề đường biên giới dài 3.500 km với Ấn Độ vẫn là phức tạp nhất.    Giữa những năm 50, Trung Quốc cho công bố bản đồ địa lý, trong đó có một phần lãnh thổ của Ấn Độ cũng như của Sich Kim, Bhutan, Nepal và một số nước khác. Tình hình biên giới chỉ giảm bớt căng thẳng vào đầu thập kỷ 80-90. Trong cuộc gặp gỡ cấp cao ở Bắc Kinh ngày 7/9/1993, hai bên đã ký &quot;Hiệp định duy trì hòa bình và ổn định dọc theo biên giới đang kiểm soát thực tế&quot;. Đến tháng 11-12/1996, Ấn Độ và Trung Quốc ký hiệp định về các biện pháp tin cậy lẫn nhau trong lĩnh vực quân sự dọc theo đường biên, thực tế được coi như một hiệp định không tấn công lẫn nhau. Tuy nhiên, nếu xem xét quan hệ Trung - Ấn một cách tổng thể, thì trong cuộc tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc, Ấn Độ vẫn coi mình là nạn nhân và nhấn mạnh rằng Trung Quốc đã chiếm một phần lãnh thổ của Ấn Độ. Nhiều chính khách New Delhi hiểu rất rõ rằng trong tương lai, Bắc Kinh không bao giờ tự nguyện trao trả phần lãnh thổ mà Ấn Độ coi là của mình. Cho nên, tốt nhất vẫn là để nguyên trạng.     Với những láng giềng phía nam     Biển Đông đang là nơi không đơn giản với Trung Quốc. Quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa (mà nhiều bằng chứng lịch sử chứng minh thuộc chủ quyền của Việt Nam - TS) đang là đối tượng tranh chấp của nhiều nước. Còn Vịnh Bắc Bộ liên quan đến việc phân định biên giới trên biển giữa Trung Quốc và Việt Nam.    Các nước ở khu vực Biển Đông hiện chưa giải quyết được những tranh chấp xung quanh quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa (kéo dài từ Tây Nam tới Đông Bắc đến hơn 1.000 km với hàng trăm đảo nhỏ). Trung Quốc, Việt Nam, Philippines và Malaysia, mỗi nước đang kiểm soát một phần quần đảo gây tranh cãi này. Trung Quốc còn tranh chấp với Nhật Bản về hòn đảo Senkaku.    Những vấn đề biên giới trên bộ và trên biển chưa được phân định của Trung Quốc sẽ có tác động lâu dài đến quan hệ giữa Bắc Kinh với các nước láng giềng. Liệu đường biên giới giữa Trung Quốc với các nước láng giềng có thay đổi không? Với tình hình thực tế hiện nay của nước này - đường lối lãnh đạo ổn định, phát triển và tập trung giải quyết những vấn đề nội bộ - thì điều đó ít có khả năng xảy ra.    (Theo  Independent )  
</content> 
</entry> 
 
 <entry> 
 <id>tag:www.vnweblogs.com,2011-04-04:289856</id>
 <title>Gặp mặt đầu năm</title> 
 <link rel="alternate" type="text/html" href="http://dean165.vnweblogs.com/post/14795/289856" /> 
  
 <updated>2011-04-04T14:02:58+07:00</updated> 
 <summary type="text"> Ngày 19/3/2011 Lãnh sự quán Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Nam Ninh (Quảng Tây) đã tổ chức họp mặt cán bộ, học viên nhân dịp đầu năm. ...</summary> 
 <author> 
  
 <name>dean165</name> 
</author> 
<dc:subject>
Tin tức 
</dc:subject> 
 <content type="text" xml:lang="vn" xml:base="http://dean165.vnweblogs.com"> 
  Ngày 19/3/2011 Lãnh sự quán Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Nam Ninh (Quảng Tây) đã tổ chức họp mặt cán bộ, học viên nhân dịp đầu năm. Tại cuộc gặp mặt lãnh đạo Lãnh sự quán đã bầy tỏ sự tin tưởng vào nỗ lực học tập, phát huy tinh thần đoàn kết, cầu thị của học viên, sinh viên Việt Nam, chúc tất cả học tập tốt để về phụng sự đất nước. Các học viên, sinh viên đã hứa cố gắng khắc phục khó khăn để học tốt, cũng như tăng cường sự đoàn kết, hiểu biết lẫn nhau giữa sinh viên Việt Nam và sinh viên Trung Quốc.         
</content> 
</entry> 
 
 <entry> 
 <id>tag:www.vnweblogs.com,2011-03-07:284193</id>
 <title>c&amp;oacute; ai nghe thấy kh&amp;ocirc;ng?</title> 
 <link rel="alternate" type="text/html" href="http://dean165.vnweblogs.com/post/14795/284193" /> 
  
 <updated>2011-03-07T16:26:01+07:00</updated> 
 <summary type="text">     Ai viết cho tôi không? Vậy là chúng mình xa nhau cũng hơi lâu rồi nhỉ, thời gian ấy chẳng nói lên điều gì cả, bạn ở bốn phương, ngôi nhà vẫn trống! ...</summary> 
 <author> 
  
 <name>dean165</name> 
</author> 
<dc:subject>
Chăm sóc 
</dc:subject> 
 <content type="text" xml:lang="vn" xml:base="http://dean165.vnweblogs.com"> 
      Ai viết cho tôi không? Vậy là chúng mình xa nhau cũng hơi lâu rồi nhỉ, thời gian ấy chẳng nói lên điều gì cả, bạn ở bốn phương, ngôi nhà vẫn trống! Các bạn trở về sau một thời gian hối hả nơi đất khách quê người, bâng quơ vài dòng mail, chat, đôi bữa nhắn nhắn, gọi gọi, vậy là các bạn lại cuốn gói lên đường, kẻ Beijing, người Guangzhou, tên đánh võng trời Nanning, Guangxi… ở đấy các bạn vẫn nói nói, cười cười và đương nhiên thời gian đang trôi qua từng bước bạn đi và trôi qua từng nụ cười của bạn.    Nhưng có một điều, ai còn nhớ đến tôi không – ngôi nhà này của các bạn. Ở phương trời xa các bạn hãy bỏ cho tôi một dòng… Hằng ngày tôi vẫn mải miến tìm, vẫn ngóng trông các bạn, vẫn chờ một người trở về, dù là hiếm muộn. Đành rằng các bạn học đấy, bận thật nhiều, vui thật nhiều, nhưng không nhẽ một giây phút nào đó, một phần nghìn dây thôi, các bạn chợt nhớ đến tôi – đến ngôi nhà mà các bạn đã từng chung tay xây dựng. Tôi biết rằng có khi đòi hỏi như thế là vô nghĩa, đành phải vậy thôi, đành phải mơ ước và cầu mong những điều tốt đẹp nhất đến các bạn – dù ở phương trời nào. Thôi nhé bạn lẽ nào chúng mình sẽ mãi ra đi?!    Ai đó có nghe thấy không…  
</content> 
</entry> 
 
 <entry> 
 <id>tag:www.vnweblogs.com,2011-02-22:281786</id>
 <title>Ng&amp;agrave;y của thơ ở Gia Lai</title> 
 <link rel="alternate" type="text/html" href="http://dean165.vnweblogs.com/post/14795/281786" /> 
  
 <updated>2011-02-22T09:51:17+07:00</updated> 
 <summary type="text"> Một cuộc trình diễn thơ với nghệ thuật sắp đặt, ngôn ngữ thơ kết hợp với ngôn ngữ hội họa lần đầu tiên có ở Gia Lai vừa được tổ chức hôm ...</summary> 
 <author> 
  
 <name>dean165</name> 
</author> 
<dc:subject>
Trải nghiệm 
</dc:subject> 
 <content type="text" xml:lang="vn" xml:base="http://dean165.vnweblogs.com"> 
  Một cuộc trình diễn thơ với nghệ thuật sắp đặt, ngôn ngữ thơ kết hợp với ngôn ngữ hội họa lần đầu tiên có ở Gia Lai vừa được tổ chức hôm 19-2 vừa qua tại Công viên Lý Tự Trọng (TP. Pleiku). Đây là một sân thơ nằm trong chuỗi hoạt động của “Ngày thơ Việt Nam tại Gia Lai” do Hội Văn học Nghệ thuật Gia Lai tổ chức, được một số nhà thơ, và đặc biệt là các họa sĩ trẻ, nhiệt tình xả thân thực hiện với một tiêu chí duy nhất: vì thơ, vì cái đẹp, vì công chúng.    Nhà thơ Văn Công Hùng gọi cuộc trình diễn này là “Thơ thị giác”. Một đồng nghiệp của tôi, sau khi đi xem thơ khắp lượt, nói: cứ gọi là bữa thưởng thơ thư pháp cho giản dị, dù nó được thể hiện trên chất liệu gì. Rồi anh cười. Tôi cũng cười, và dĩ nhiên là không bình luận, nhưng nghĩ: Rõ ràng, dẫu hiểu theo nghĩa nào thì hôm 19-2 này vẫn được coi là Ngày của thơ…          Đông đảo người đến với chương trình “Thơ thị giác”. Ảnh: Thu Huế          Sáng tạo để tôn vinh thơ     Là người đứng mũi chịu sào, nhà thơ Văn Công Hùng chia sẻ: Vốn dĩ, “Thơ thị giác” không lạ với các địa phương khác, nhưng chúng tôi vẫn rất hồi hộp khi đứng ra tổ chức sân thơ này tại Gia Lai. Bây giờ nó đã ra đời, sự bình luận thưởng ngoạn là của các bạn, chúng tôi cũng trở thành khán giả.     Bên cạnh cách thưởng thức thơ truyền thống, chúng ta thử một lần chiêm ngưỡng thơ từ một góc nhìn khác, cách nhìn khác. Chúng tôi muốn chúng ta cùng mở rộng biên độ tưởng tượng, với thơ. Và sẽ chẳng hạnh phúc nào lớn hơn với người sáng tác nếu tác phẩm được chiêm ngắm ở nhiều chiều, nhiều góc độ để thấy hết khả năng bùng nổ của nghệ thuật.    Thì chẳng phải những người có mặt tại khuôn viên nhỏ trước chùa Hộ Quốc cũ (trong công viên Lý Tự Trọng, TP. Pleiku) ngày 19-2 cũng đã có những giây phút ngẩn mình… trước thơ đó sao. Ngay chính những người có thơ trình diễn trong chương trình này cũng không tránh khỏi sự ngỡ ngàng.     Tác giả trẻ Ngô Thị Thanh Vân tươi rói nụ cười: “Sân thơ lạ và tạo được ấn tượng. Năm đầu mà làm được như thế này là quá tuyệt!”. Tác giả Lê Bá Tuế cùng cười: “Không phải được, mà là rất được. Nhưng chưa thấy mấy câu của mình, chả biết nó nằm trên cái gì và ở chỗ nào”.     Tuy nhiên, cũng vẫn một câu hỏi đó- câu: “Bạn thấy chương trình này thế nào”, cô bé học trò Trường THPT Pleiku Nguyễn Thị Dạ Thảo sau một chút lặng im thì trả lời tôi như thế này: “Lần đầu tiên được đọc thơ viết trên xe máy, đàn ghi ta, chum, vại…, cháu thấy lạ lạ, vui vui, nhưng thực sự là không hiểu mấy.     Với những câu thơ được trích như thế này, cháu nghĩ là phải nhờ đến thầy cô hay chính tác giả giải nghĩa thì mới cảm nhận hết được”. Còn đây là lời của anh Nguyễn Văn Thắng (thôn Phú Vinh, xã Ia Băng, huyện Chư Prông): “Tôi là khách uống cà phê ngoài kia, thấy băng rôn giới thiệu thì ghé vào. Thi thoảng tôi có đọc thơ, đọc chơi thôi. Đúng là đọc thơ ở đây có khác, từ không gian đến cách trình bày, nhưng nói hiểu thì chưa đâu…”.     Năm sau chúng tôi vẫn làm…     Đây là lời khẳng định hăng hái của những người tham gia thực hiện chương trình. Và không chỉ là sân “Thơ thị giác” mà còn có “cả một chương trình thơ nhạc hoành tránh nữa”- lời của nhà thơ Văn Công Hùng. Còn với họa sĩ trẻ Mai Thị Kim Uyên thì: “Dĩ nhiên là nếu được mời. Nhưng giá như Ban tổ chức có thêm kinh phí để anh em họa sĩ thỏa mái phóng bút thì cả thơ và tranh sẽ phong phú và đẹp hơn, ý nghĩa hơn”.     Chuyện làm sân thơ mà người ít, thời gian ngặt nghèo, kinh phí càng ít thì anh Văn Công Hùng cũng đã đề cập đến khi trả lời phỏng vấn trên báo Gia Lai rồi. Và thực tế thì nó như thế này: Các họa sĩ- những chủ thể sáng tạo thứ 2 tham gia chương trình này duy nhất bằng lòng đam mê nghệ thuật vốn có. Tiền mua “nguyên vật liệu” để trình diễn thơ, Ban tổ chức có một chút kinh phí gọi là, thiếu thì… xem xét sau. Vậy nên, ngay trong buổi trưa 19-2, dù hai người chia nhau một ổ bánh mì, họ vẫn rất hào hứng.     Chìa cho tôi xem bàn tay đầy những vết trầy xước khi trình bày thơ, họa sĩ trẻ Tuấn cười sảng khoái: “Lặn lội gần mấy ngày đêm liền, cuối cùng chúng tôi cũng thành công. Vui nhất là được các họa sĩ đàn anh ghé tới, cho mình những lời nhận xét đắt giá, để làm kinh nghiệm cho năm sau. Mà chị cũng thấy đấy, người thưởng lãm thơ hôm nay cũng đâu có ít…”.    Quả là trong ngày 19-2 này, lúc nào cũng có người đến với sân thơ, dù khi nhặt, khi thưa, dù có người chỉ là hiếu kỳ mà tạt ngang qua, có người lại đến với tư cách như một trách nhiệm nhưng cũng không thiếu người đến với “Thơ thị giác” bằng một tình cảm thật ấm áp.     Nguyễn Doãn Hùng- giáo viên Trường Chu Văn An huyện Krông Pa chẳng hạn. Hùng bày tỏ: “Biết có chương trình này, tôi đi Pleiku từ hôm 18-2, 7 giờ sáng 19-2 đã đến với sân thơ rồi. Là người yêu thơ, tôi rất thích những hoạt động để tôn vinh thơ như thế này…”.     Thu Huế     [Nguồn:  http://www.tinhuygialai.org.vn ]  
</content> 
</entry> 
 
 <entry> 
 <id>tag:www.vnweblogs.com,2011-02-22:281785</id>
 <title>Biến động ch&amp;iacute;nh trị ở Bắc Phi v&amp;agrave; Trung Đ&amp;ocirc;ng: Nguy&amp;ecirc;n nh&amp;acirc;n, bản chất sự việc?</title> 
 <link rel="alternate" type="text/html" href="http://dean165.vnweblogs.com/post/14795/281785" /> 
  
 <updated>2011-02-22T09:48:55+07:00</updated> 
 <summary type="text"> Từ giữa tháng 12 năm 2010 đến nay, nhiều nước vùng Bắc Phi và Trung Đông (MENA) đã xẩy ra những biến động chính trị to lớn, sâu sắc. Theo dõi tình hình ...</summary> 
 <author> 
  
 <name>dean165</name> 
</author> 
<dc:subject>
Tin tức 
</dc:subject> 
 <content type="text" xml:lang="vn" xml:base="http://dean165.vnweblogs.com"> 
  Từ giữa tháng 12 năm 2010 đến nay, nhiều nước vùng Bắc Phi và Trung Đông (MENA) đã xẩy ra những biến động chính trị to lớn, sâu sắc. Theo dõi tình hình khu vực này, có thể tìm ra những căn nguyên bề nổi, mang tính chủ quan, nhưng không dễ thấy được căn nguyên sâu xa, mang tính khách quan, rất có thể, là nguyên nhân quan trọng, chủ yếu.             Dòng người biểu tình tại Libya     Như chúng ta đều biết (và sự việc có vẻ giản đơn): Ngày 17 tháng 1 năm 2011, Mô-ha-mét Bu-a-zi (Mohamed Bouazzi), công dân Tuy-ni-di 26 tuổi, do bị cảnh sát tịch thu gánh hàng rong, vì quá phẫn uất, đã tự thiêu. Hình ảnh đó được ghi lại bằng máy quay phim, bằng điện thoại di động, được tung lên các trang mạng xã hội Facebook, Twitter, YouTube… Ngay sau đó, nhiều cuộc biểu tình, bạo loạn liên tiếp nổ ra ở Sidi Bouzid và các tỉnh, thành phố khác của Tuy-ni-di (Tunisia). Qua các cuộc xô xát, trấn áp, phản kháng, đã có hàng chục người chết, hàng trăm người bị thương. Trước sức ép của phe đối lập và các lực lượng biểu tình, ngày 14/2, Tổng thống Ben Ali cùng gia đình trốn chạy khỏi Tuy-ni-di.     Biến động chính trị dữ dội ở Tuy-ni-di, được thế giới khoác cho một cái tên mỹ miều - “cuộc cách mạng hoa nhài”, nhanh chóng tác động, lây lan, xô đẩy nhiều nước khác ở Bắc Phi, Trung Đông. Ở An-giê-ri, trong các ngày từ 6 đến 8 tháng 1, biểu tình, bạo loạn cũng bùng phát ở trên 20 tỉnh, thành phố, đến nay, tình hình tuy có dịu xuống, nhưng trên 80 người đã thiệt mạng, hàng trăm người bị thương. Ở nước có hơn 80 triệu dân Ai Cập, bằng khẩu hiệu “Một ngày nổi dậy” đòi Tổng thống Hu-xni Mu-ba-rắc (Hosni Mubarak) từ chức truyền đi qua điện thoại di động, qua Facebook, qua báo chí và mạng internet, nhiều cuộc biểu tình, bạo động chính trị quy mô lớn, thu hút sự tham gia của hàng chục ngàn người đã nổ ra tại thủ đô Cai-rô, thành phố cảng Alechxandria, vùng kênh đào Xuy-ê (Suez)…Không thể có con đường nào khác, lúc 19h15 (GTM) ngày 11 tháng 2, Phó Tổng thống Ai Cập Ô-ma Su-lây-man phát biểu trên truyền hình tuyên bố Tổng thống Ai Cập Hu-xni Mu-ba-rắc “đã quyết định từ chức” (rất có thể là một cuộc đảo chính quân sự ?!), kết thúc 32 năm cầm quyền liên tục ở đất nước đông dân nhất thế giới Arập. Hội đồng tối cao của các lực lượng vũ trang Ai Cập (do Bộ trước Quốc phòng Mô-ha-met Hu-xây-in Tan-ta-uy đứng đầu) thay thế Tổng thống để điều hành đất nước.     Tình hình căng thẳng với nhiều cuộc biểu tình, bạo động chính trị cũng xẩy ra ở các nước lân cận như Li-bi, Y-ê-men, Ba-ren, Xu-đăng, I-ran, Cô-oét, Ô-man, Giooc-đa-ni, Gi-bu-ti…    Việc gì đang xẩy ra ở các nước MENA ? những nguyên nhân nào đưa đến biểu tình, bạo loạn ? Câu trả lời đang dần hé lộ: Thứ nhất, đó là các nguyên nhân nội tại, bắt nguồn từ việc các nước này lệ thuộc quá nhiều vào nước ngoài, cả về chính trị, kinh tế, quân sự, ngoại giao, nhất là sự lệ thuộc về kinh tế. Khi kinh tế toàn cầu suy giảm, nền tài chính, tiền tệ thế giới rơi vào khủng hoảng, chính các nước này bị tác động sớm và mạnh mẽ nhất. Thứ hai, là đường lối chính trị, là cách thức lãnh đạo, điều hành đất nước của nhà cầm quyền, nhất là của những người đứng đầu, sai lầm. Tình trạng độc đoán, chuyên quyền, gia đình trị, tham nhũng kéo dài, tạo nên sự bất bình ngày càng gia tăng của các giai tầng trong xã hội. Khi các đảng phái đối lập, các nhóm Hồi giáo cực đoan trỗi dậy, nêu chiêu bài “dân chủ”, “chống tham nhũng”, “chống độc quyền, gia đình trị”…, rất dễ tranh thủ sự ủng hộ, đi theo của người dân. Thứ ba, là tình trạng đói nghèo, thất nghiệp, mù chữ, tội phạm và tệ nạn xã hội gia tăng, khoảng cách giàu nghèo ngày càng bị khoét sâu, tạo nên mâu thuẫn xã hội sâu sắc. Từ ba nguyên nhân trên, dẫn đến nguyên nhân thứ tư là, nhà cầm quyền không nhận được sự trung thành, ủng hộ thật lòng của quân đội và lực lượng cảnh sát, khi xẩy ra nguy biến, rốt cuộc, các lực lượng này phản ứng yếu ớt, thậm chí buông xuôi. Có thể có thêm một vài nguyên nhân nội tại khác nữa. Tuy nhiên, có những nguyên nhân từ bên ngoài (mà không nên gọi là khách quan), về thực chất, đã nhúng tay, lúc thô bạo, lúc tinh vi, xảo quyệt. Xin ngược dòng thời gian và nhớ lại.    Tháng 6 năm 2004, chính quyền G. Bush đã vạch ra chiến lược Đại Trung Đông nhằm “thúc đẩy dân chủ” ở các nước A-rập. Tháng 3 năm 2005, Quốc hội Mỹ thông qua bộ luật Thúc đẩy dân chủ ở các nước A-rập, trong đó có điều khoản yêu cầu Bộ Ngoại giao nước này thành lập các trang website, mạng xã hội để liên kết, hỗ trợ “các phong trào dân chủ”; tài trợ tiền bạc cho các tổ chức phi chính phủ (NGO) thuộc khối A-rập…Mạng xã hội Twitter ra đời từ chính sách đó, và đã thể hiện rất rõ sự lợi hại trong thời gian vừa qua. Mỹ cũng cho lập Quỹ quốc gia hỗ trợ dân chủ (NED), Ngôi nhà tự do (FH), tài trợ cho hơn 1000 NGO ở hơn 90 quốc gia trên thế giới, trong đó có 33 NGO ở Ai Cập. Tổ chức USAID của Mỹ hàng năm tài trợ trên 70 triệu USD cho các “hoạt động xã hội dân sự” tại Ai Cập… Tháng 8 năm 2010, Tổng thống Mỹ O. Ô-ba-ma lệnh cho các cố vấn an ninh soạn thảo một báo cáo mật, trong đó chỉ rõ những nơi nào trong thế giới A-rập có khả năng xẩy ra biến động, bạo động chính trị. Trước đó, ngày 4 tháng 6 năm 2009, trong một bài phát biểu tại Cai-rô, khi mà quan hệ giữa Mỹ và chính quyền Ai Cập đang khá mặn nồng (ít nhất là bề ngoài), Tổng thống Mỹ O.Ô-ba-ma đa đưa ra thông điệp mà sau này, buộc nhiều người phải ngẫm ngợi: “Tôi có một niềm tin chắc chắn rằng, tất cả mọi người đều khao khát có thể phát biểu suy nghĩ của mình, cũng như đóng góp ý kiến về cách thức được cai trị; lòng tin vào quyền lực của luật pháp và sự thực thi công lý bình đẳng; một chính phủ minh bạch và không tham nhũng của dân; được tự do sống theo ý mình”. Trước khi ông H. Mu-ba-rắc buộc phải ra đi 11 ngày, trả lời phỏng vấn báo chí về tình hình Ai Cập, Ngoại trưởng Mỹ H. Clinton kêu gọi Ai Cập cần “chuyển tiếp trong trật tự”.    Có cùng quan điểm với Mỹ, nói đúng hơn là đi theo Mỹ trong vấn đề Ai Cập, Bắc Phi, Trung Đông, còn có nhiều nhân vật, tổ chức, quốc gia ở khu vực này và phương Tây lộ diện dần trong màn khói hư ảo. Rõ nhất là lãnh tụ phe đối lập, ông Mô-ha-met En Ba-ra-đây (Mohamed El Baradei) - nguyên Giám đốc Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế, người Ai Cập. Ông này đã thốt lên: “quốc gia tự do”, “cuộc sống đã bắt đầu trở lại” với tất cả người dân Ai Cập. Tổ chức Anh em Hồi giáo cũng hoan nghênh “quân đội đã giữ cam kết” cho cuộc đấu tranh của người dân Ai Cập. Chính phủ các nước Mỹ, Anh, Pháp, Đức và EU cho rằng đây là “thời khắc lịch sử”. Ở Ai Cập và cả khối MENA, người ta đang rất quan tâm tới một nhân vật mang mật danh ElShaheed, tiếng A-rập có nghĩa là “tử vì đạo”, người đóng vai trò chính trong việc kích động giới trẻ Ai Cập thông qua mạng Facebook. Nhiều người đã nhắc đến các mạng xã hội như Twitter, Facebook, WikiLeaks, YouTube và vai trò của báo chí, truyền thông…như là những tội đồ. Cần chỉ rõ rằng, những kẻ làm đất, đổ ải, gieo hạt để có “vụ gặt” bội thu vừa qua, công đầu là Mỹ, nhiều nước phương Tây, các thế lực đầu cơ chính trị bản địa. Các mạng xã hội, phương tiện truyền thông, báo chí… thuần túy chỉ là công cụ - những công cụ đắc lực, sắc lẻm, lạnh lùng trong tay kẻ chủ mưu, kẻ sử dụng. Đài BBC, trong bài viết gần đây tựa đề “Cách mạng: I-ran - Thiên An Môn - Ai Cập”, nêu ra những “kinh nghiệm” để làm “cách mạng”: kích động quần chúng gây rối, bạo loạn; triệt để lợi dụng các sự cố, tai nạn, những cái chết để tạo cớ; sử dụng mạng xã hội, báo chí, truyền thông để kích động, liên kết trong ngoài…Ngày 15 tháng 2 năm 2011, phát biểu tại trường đại học G. Oa-sinh-ton, Ngoại trương Mỹ, bà H. Clinton lại lên tiếng chỉ trích, xuyên tạc Trung Quốc, Việt Nam, Cu Ba, I-ran, My-an-ma, Sy-ri…“vi phạm tự do Internet”; thông báo Bộ Ngoại giao Mỹ sẽ tiếp tục tung ra các trang mạng xã hội Twitter bằng các thứ tiếng Trung Quốc, Nga, Ấn Độ (sau khi đã thực hiện rất hiệu quả các trang mạng xã hội này bằng tiếng A-rập, Farsi). Năm 2011, Mỹ sẽ chi ít nhất 25 triệu USD để “bảo vệ” các bloger đang bị ngăn cản, “cải thiện môi trường pháp lý” cho hoạt động truyền thông.     Biến động chính trị tại Bắc Phi, Trung Đông, đặc biệt là ở Ai Cập, Tuy-ni-di, đã và đang được nhìn nhận, đánh giá một cách bình tĩnh, đầy đủ, công bằng và khách quan hơn. Khi đi vào vấn đề này, rất cần có cái nhìn toàn diện, đi vào chiều sâu, vào bản chất sự việc, vừa không xem nhẹ nguyên nhân bên trong, càng không được xem nhẹ các nhân tố bên ngoài. Đó là bài học cảnh tỉnh, cảnh giác cho nhiều quốc gia, dân tộc trên thế giới. Đó cũng là cách tiếp cận cần thiết để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta nỗ lực phấn đấu; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới; xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; phát triển kinh tế nhanh và bền vững; nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; giữ vững ổn định chính trị - xã hội; đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn “Diễn biến hòa bình” của các thế lực phản động, thù địch; thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, tất cả vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./.    TS.  Nguyễn Thế Kỷ  (Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương)     [Nguồn:  http://www.tinhuygialai.org.vn )  
</content> 
</entry> 
 
 <entry> 
 <id>tag:www.vnweblogs.com,2011-02-15:280538</id>
 <title>Ai đứng đằng sau c&amp;aacute;c cuộc bạo động ch&amp;iacute;nh trị ở Ai Cập</title> 
 <link rel="alternate" type="text/html" href="http://dean165.vnweblogs.com/post/14795/280538" /> 
  
 <updated>2011-02-15T09:46:41+07:00</updated> 
 <summary type="text">     Cuộc bạo động chính trị dẫn tới hành động đảo chính nhà nước ở Tuy-ni-di, hay còn được gọi là “cuộc cách mạng hoa nhài”, diễn ra trong những ...</summary> 
 <author> 
  
 <name>dean165</name> 
</author> 
<dc:subject>
Tin tức 
</dc:subject> 
 <content type="text" xml:lang="vn" xml:base="http://dean165.vnweblogs.com"> 
      Cuộc bạo động chính trị dẫn tới hành động đảo chính nhà nước ở Tuy-ni-di, hay còn được gọi là “cuộc cách mạng hoa nhài”, diễn ra trong những ngày cuối cùng của thập niên đầu thế kỷ XXI tại một trong những quốc gia phát triển thịnh vượng nhất ở Bắc Phi, dường như là “sự kiện châm ngòi” cho các vụ bạo động chính trị, hoặc các cuộc “cách mạng nhung” đầy kịch tính ở Ai Cập, đang âm ỉ nhen nhóm ở Y-ê-men, Gioóc-đa-ni, Xi-ri và có thể bùng phát ở nhiều quốc gia khác ở châu Phi.                  Hàng nghìn người đổ về quảng trường Tahrir ở trung tâm thủ đô Cairo, biểu tình đòi Tổng thống Hosni Mubarak từ chức. (Ảnh: AFP/TTXVN)      Một câu hỏi lớn đặt ra ở đây là, liệu có phải các cuộc bạo động chính trị đó là hiện tượng mang tính quy luật, hay do các thế lực nào giật dây và đạo diễn nhằm mưu cầu những lợi ích riêng?       Vẫn là kịch bản “cách mạng nhung” quen thuộc     Để trả lời câu hỏi này, ông Uy-li-am Ăng-đan (F. William Engdahl), nhà nghiên cứu chính trị, lịch sử và kinh tế Mỹ, tác giả cuốn sách mang tựa đề “Chiến lược giành ưu thế toàn diện hay là nền dân chủ bá quyền trong trật tự thế giới mới” (“Full Spectrum Dominance: Totalitarian Democracy in the New World Order”, Nhà xuất bản Wiesbaden, Cộng hòa Liên bang Đức, năm 2009), có bài viết đăng trên báo điện tử “Chiến tranh và hòa bình” (Uy-li-am Ăng-đan - “Cuộc cách mạng ở Ai-cập phải chăng là sự tàn phá cái cũ để xây dựng Trung Đông Lớn?” đăng trên http://www.warandpeace.ru/ru/exclusive/vprint/55198/), đã chứng minh rằng, các cuộc “cách mạng nhung” đầy kịch tính ở nhiều nước châu Phi, đặc biệt là ở Ai Cập hiện nay, đều do các tổ chức phi chính phủ ở Mỹ đạo diễn và tài trợ, để thực hiện kế hoạch “bình định” toàn bộ khu vực Trung Đông nhằm tranh giành tài nguyên và thị trường với các đối thủ cạnh tranh là Trung Quốc, Nga, EU và nhiều nước khác.    Theo Uy-li-am Ăng-đan, nhìn bề ngoài, có vẻ như các cuộc “cách mạng nhung” đó diễn ra một cách tự nhiên, xuất phát từ cùng một nguyên nhân là khủng hoảng kinh tế - xã hội; nạn thất nghiệp gia tăng; sự bất bình đẳng trong xã hội; khoảng cách giữa người giàu và người nghèo ngày một lớn; chính quyền ở các nước đó bảo thủ và trì trệ trong nhiều năm... Tuy nhiên, khi phân tích kỹ dựa trên các cứ liệu lịch sử và xâu chuỗi các sự kiện diễn ra trong suốt nhiều thập kỷ thì nhận thấy, công thức chung cho các cuộc “cách mạng” đó đã được Lầu Năm Góc, các cơ quan tình báo, các viện nghiên cứu chiến lược, các tổ chức phi chính phủ của Mỹ và nhiều nước phương Tây nghiên cứu hoạch định và áp dụng từ trước đây rất lâu. Mà khởi đầu là từ năm 1968 trong các sự kiện nhằm gây bất ổn chính trị ở nước Pháp dưới thời cầm quyền của Tổng thống Pháp Đờ-gôn - một người không chịu nghe theo sự chỉ bảo của Mỹ. Các chuyên gia nghiên cứu chiến lược chính trị gọi đó là “công nghệ ong vỡ tổ”.    Kể từ các cuộc bạo động chính trị ở Pháp năm 1968, Oa-sinh-tơn đã sử dụng “công nghệ ong vỡ tổ” để đạo diễn hàng loạt vụ bạo động chính trị nhằm thay đổi chính phủ cầm quyền ở nhiều nước Đông Âu và các khu vực khác trên thế giới, mà gần đây nhất là các cuộc “cách mạng nhung” ở Nam Tư, Gru-di-a, U-crai-na, Cư-rơ-gư-dơ-xtan, I-ran v.v.     Do đâu Mỹ bỏ rơi đồng minh chiến lược ở Trung Đông?     Ngày 11-2-2011, trước sức ép ngày càng tăng của phong trào phản kháng cũng như sự hối thúc quyết liệt của Mỹ và một số nước phương Tây, Tổng thống Ai Cập Hô-xni Mu-ba-rắc đã phải quyết định từ chức và trao lại quyền điều hành đất nước cho giới quân sự.    Một trong những câu hỏi đặt ra trước dư luận quốc tế cũng như giới phân tích là thái độ khá bất ngờ và không thông thường của Oa-sinh-tơn đối với các biến cố ở Ai Cập và bản thân Tổng thống Hô-xni Mu-ba-rắc. Trong một thời gian khá dài, Tổng thống Hô-xni Mu-ba-rắc là một trong những đồng minh và đối tác tin cậy nhất, then chốt nhất của Mỹ và các nước phương Tây ở Trung Đông. Ai Cập đã từng hợp tác rất chặt chẽ với I-xra-en-một đồng minh chiến lược của Mỹ và đã từng đóng vai trò trung gian để thực hiện các kịch bản của Oa-sinh-tơn ở khu vực này.    Thế nhưng, trong diễn biến các sự kiện vừa qua ở Ai Cập, Tổng thống Mỹ Ba-rắc Ô-ba-ma và một số quan chức cấp cao trong chính phủ Mỹ liên tiếp đưa ra những tuyên bố nhằm hối thúc Tổng thống Hô-xni Mu-ba-rắc từ chức ngay lập tức. Trợ lý của Tổng thống Mỹ Ba-rắc Ô-ba-ma, ông Mác-phôn, đã từng tuyên bố: “Một mặt, Mỹ tiếp tục giữ quan hệ nhà nước với Ai Cập, mặt khác vẫn ủng hộ phong trào phản kháng tại đây”. Trên thực tế, Oa-sinh-tơn đã bỏ rơi Tổng thống Hô-xni Mu-ba-rắc. Do đâu có tình hình đó?    Theo giới phân tích chính trị quốc tế, dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào ở Trung Đông, Oa-sinh-tơn vẫn phải xuất phát từ các lợi ích địa - chính trị. Có thể thấy, thời gian đầu sau khi Liên Xô tan rã, Mỹ trở thành quốc gia chiếm ưu thế gần như tuyệt đối ở Trung Đông. Họ đã đơn phương phát động chiến tranh ở I-rắc, được phép của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc tiến hành chiến tranh ở Áp-ga-ni-xtan, liên tục đưa ra các giải pháp gây sức ép đối với I-ran. Tuy nhiên, thời gian gần đây, tình hình thực tế diễn biến bất lợi đối với Mỹ, trong đó Oa-sinh-tơn đứng trước nguy cơ mất dần ảnh hưởng và mất quyền kiểm soát ở Trung Đông. Tiến trình “Mỹ hóa I-rắc” và “Mỹ hóa Áp-ga-ni-xtan” rơi vào bế tắc, khả năng Mỹ sử dụng sức mạnh quân sự để giải quyết “hồ sơ hạt nhân” của I-ran đã bị “xếp xó”, đồng thời Mỹ cũng đã hoàn toàn thất bại trong vai trò trung gian hòa giải để dàn xếp tiến trình hòa bình giữa I-xra-en và Pa-le-xtin.    Trong bối cảnh đó, ngay trong Bộ Ngoại giao Mỹ cũng như trong giới quyền lực khác ở Oa-sinh-tơn đã hình thành hai loại ý kiến khác nhau. Một loại ý kiến cho rằng, Mỹ nên giữ nguyên hiện trạng. Còn loại ý kiến khác đưa ra là cho dù có hiện diện quân sự ở Trung Đông, Mỹ vẫn không thể “bình định” được khu vực này và đặt nó dưới tầm ảnh hưởng toàn diện của mình. Do đó, Mỹ nên có các biện pháp chiến lược dung hòa với các lực lượng hồi giáo ôn hòa, thậm chí mở đường cho họ tham gia bộ máy cầm quyền ở một số nước trong khu vực nhằm ngăn chặn làn sóng chủ nghĩa hồi giáo cực đoan. Ở Ai Cập, đại diện điển hình cho lực lượng hồi giáo ôn hòa là tổ chức “Những người Hồi giáo anh em”. Chính tổ chức này là một thành phần quan trọng tham gia các cuộc biểu tình, chống Tổng thống Hô-xni Mu-ba-rắc ở Ai Cập vừa qua.    Vì thế, theo Uy-li-am Ăng-đan, cuộc “cách mạng” hiện nay ở Ai Cập xuất phát từ chủ trương của Oa-sinh-tơn muốn lật đổ Tổng thống Hô-xni Mu-ba-rắc, một người trong thời gian gần đây đã trở thành vật cản trên con đường Mỹ thực hiện chiến lược “bình định” trên toàn bộ khu vực được họ gọi là Trung Đông Lớn. Quan hệ giữa Tổng thống Mỹ Ba-rắc Ô-ba-ma và Tổng thống Hô-xni Mu-ba-rắc đã từng bị đóng băng do Cai-rô và Oa-sinh-tơn mâu thuẫn trong cách giải quyết vấn đề hạt nhân của I-ran nói riêng và chính sách của Tổng thống Mỹ Ba-rắc Ô-ba-ma đối với toàn bộ khu vực Trung Đông nói chung. Chính vào thời điểm bùng phát các cuộc bạo động trên đường phố ở Cai-rô đòi Tổng thống Hô-xni Mu-ba-rắc từ chức, Tổng tham mưu trưởng quân đội Ai Cập, trung tướng Xa-mi Ha-phét, được Lầu Năm Góc mời sang thăm Mỹ nhằm vô hiệu hóa sự hỗ trợ của quân đội trong việc ủng hộ Tổng thống Hô-xni Mu-ba-rắc dẹp loạn.     Cuộc “cách mạng” ở Ai Cập     Dựa trên các cứ liệu xác thực, Uy-li-am Ăng-đan chứng minh rằng, cuộc bạo động chính trị ở Ai Cập diễn ra theo đúng kịch bản các cuộc “cách mạng nhung”, hay còn gọi là “cách mạng bằng sức mạnh mềm” đã từng diễn ra ở Gru-di-a và U-crai-na. Ở Ai Cập, lực lượng tiến hành “cách mạng” bao gồm đông đảo thanh niên sử dụng các phương tiện công nghệ thông tin và mạng Internet có quan hệ gắn bó với ông Mô-ha-mét En Ba-ra-đây, nguyên Giám đốc Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế, và nhóm giáo phái mang tên “Những người Hồi giáo anh em” đã từng có nhiều năm “ăn nằm” với các cơ quan tình báo Mỹ và Anh.    Lời kêu gọi tổng bãi công trên toàn lãnh thổ Ai Cập và tổ chức “Ngày nổi giận” hôm 25-1-2011 đòi Tổng thống Hô-xni Mu-ba-rắc từ chức được phát đi từ “chỉ huy sở” đặt trên mạng xã hội Facebook và được mang tên là “Phong trào ngày 6 tháng 4” do Át-mét Ma-hơ I-bra-him, kỹ sư xây dựng 29 tuổi, đứng đầu. Trước đó, vào ngày 6-4-2008, chính Át-mét Ma-hơ I-bra-him đã sử dụng mạng xã hội Facebook ra lời kêu gọi công nhân bãi công chống chính phủ của Tổng thống Hô-xni Mu-ba-rắc.    Theo tính toán của “Thời báo Mỹ” (New York Times), từ năm 2009 đã có khoảng 800.000 người Ai Cập, đa số là thanh niên, sử dụng hai mạng xã hội lớn nhất là Facebook và Twitter. Trả lời phỏng vấn ở Oa-sinh-tơn, Át-mét Ma-hơ I-bra-him tuyên bố: “Là phong trào thanh niên ở Ai Cập sử dụng mạng xã hội trên Internet, như Facebook và Twitter, chúng tôi sẽ thúc đẩy quá trình dân chủ bằng cách khuyến khích cộng đồng tham gia các quá trình chính trị”.    Cũng trong năm 2009, Át-mét Ma-hơ I-bra-him cho biết, “Phong trào ngày 6 tháng 4” nhận được sự ủng hộ của ông Mô-ha-mét En Ba-ra-đây, Giám đốc Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế; ông Gioóc-giơ Ít-hắc-cơ, thủ lĩnh tổ chức mang tên “Phong trào vì sự thay đổi ở Ai Cập”, và chủ tịch phong trào “Những người Hồi giáo anh em”. Lúc này, “Phong trào vì sự thay đổi ở Ai Cập” và tổ chức “Những người Hồi giáo anh em” là lực lượng chủ chốt và đóng vai trò trung tâm trong cuộc “cách mạng nhung” ở Ai Cập. Theo nhận định của giới phân tích, ông Mô-ha-mét En Ba-ra-đây là nhân vật trung tâm trong các diễn biến dân chủ mang tính chất nghị viện ở Ai Cập trong thời gian tới. Căn cứ vào dư luận ở Mỹ, ông Mô-ha-mét En Ba-ra-đây nhận được sự ủng hộ của các tướng lĩnh quân đội và nhiều quan chức có ảnh hưởng lớn ở Oa-sinh-tơn.    Một động thái rất đáng chú ý là “Phong trào vì sự thay đổi ở Ai Cập có tên gọi bằng tiếng A-rập là “Ke-phai-ơ”, có nghĩa là “Đã đến lúc phải chấm dứt”, hoàn toàn trùng hợp với tên gọi “Cơ-ma-ra” bằng tiếng Gru-di-a để chỉ phong trào thanh niên “cách mạng nhung” cũng có cùng một nghĩa như thế. Nói cách khác, khẩu hiệu “cách mạng nhung” ở Ai Cập và ở Gru-di-a là giống nhau, đều kêu gọi chấm dứt chế độ cầm quyền hiện tại là đòi tổng thống đương quyền phải ra đi.    Một thực tế rất đáng chú ý là các lực lượng tham gia phong trào “Ke-phai-ơ” ở Ai Cập, cũng như phong trào thanh niên “Cơ-ma-ra” ở Gru-di-a, đều do “Quỹ quốc gia ủng hộ dân chủ” và “Viện An-be Anh-xtanh” là các tổ chức phi chính phủ ở Mỹ tài trợ và huấn luyện. Trong các cuộc mít tinh chống chính phủ ở Ai Cập vào tháng 12-2009, “Phong trào vì sự thay đổi ở Ai Cập” cũng đã từng ra tuyên bố ủng hộ ông Mô-ha-mét En Ba-ra-đây ra ứng cử Tổng thống Ai Cập trong các cuộc bầu cử sẽ được tổ chức vào năm 2011.    “Phong trào vì sự thay đổi ở Ai Cập” được thành lập năm 2008 theo sáng kiến chiến lược của Ban an ninh quốc gia thuộc Công ty RAND của Mỹ do Cục công nghệ phản ứng nhanh của Lầu Năm Góc tài trợ. Sáng kiến này nhằm sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng, các lực lượng thanh niên cực đoan và lôi kéo các tầng lớp dân chúng bất bình với chính phủ để tiến hành “cách mạng nhung”. Tháng 5-2009, trước khi Tổng thống Mỹ Ba-rắc Ô-ba-ma có chuyến thăm Ai Cập, Ngoại trưởng Mỹ Hi-la-ri Clin-tơn và Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ phụ trách khu vực Trung Đông, ông Giơ-phe-ri Phen-man, đã tổ chức cuộc gặp các thành viên tích cực nhất thuộc các “phòng trào cách mạng” ở Ai Cập do tổ chức phi chính phủ mang tên “Ngôi nhà tự do” của Mỹ tài trợ trong khuôn khổ chương trình mang tên “Thế hệ mới”. Tổ chức này là một trong các tổ chức phi chính phủ đã từng đạo diễn các cuộc “cách mạng nhung” ở U-crai-na, Gru-di-a và nhiều cuộc “cách mạng sắc màu” khác.    Như vậy, theo Uy-li-am Ăng-đan, các tổ chức phi chính phủ của Mỹ như “Ngôi nhà tự do”, “Quỹ quốc gia hỗ trợ dân chủ”, “Viện quốc gia nghiên cứu quốc tế của Đảng Cộng hòa”, “Viện quốc gia nghiên cứu quốc tế của Đảng Dân chủ”... là những tổ chức chuẩn bị và đứng đằng sau các cuộc “cách mạng nhung” trước đây ở một số nước, cũng như các cuộc bạo động chính trị hiện nay ở Tuy-ni-di, Ai Cập và nhiều nước châu Phi khác.    Lúc này, sự kiện Ai Cập đã tạo ra thêm một tiền lệ, khiến chính quyền ở các nước có định hướng thân Mỹ và thân phương Tây có thể mất dần niềm tin vào Oa-sinh-tơn. Họ sợ rằng, để bảo vệ các lợi ích địa - chính trị trên toàn cầu, đến một lúc nào đó, Mỹ sẽ bỏ rơi họ trong những tình huống tương tự như ở Ai Cập./.    [Nguồn:  http://www.tinhuygialai.org.vn/index.php?option=com_content&amp;view=article&amp;id=339:ai-ng-ng-sau-cac-cuc-bo-ng-chinh-tr--ai-cp-&amp;catid=thi-s-quc-t ]  
</content> 
</entry> 
 
 <entry> 
 <id>tag:www.vnweblogs.com,2011-02-10:279703</id>
 <title>Ban h&amp;agrave;nh trang th&amp;ocirc;ng tin điện tử Đảng bộ tỉnh Gia Lai</title> 
 <link rel="alternate" type="text/html" href="http://dean165.vnweblogs.com/post/14795/279703" /> 
  
 <updated>2011-02-10T15:18:50+07:00</updated> 
 <summary type="text">  Ngày 04 tháng 01 năm 2011 Tỉnh ủy Gia Lai đã ban hành Quyết định số 104-QĐ/TU về việc ban hành trang thông tin điện tử Đảng bộ tỉnh (website) với tên ...</summary> 
 <author> 
  
 <name>dean165</name> 
</author> 
<dc:subject>
Tin tức 
</dc:subject> 
 <content type="text" xml:lang="vn" xml:base="http://dean165.vnweblogs.com"> 
   Ngày 04 tháng 01 năm 2011 Tỉnh ủy Gia Lai đã ban hành Quyết định số 104-QĐ/TU về việc ban hành trang thông tin điện tử Đảng bộ tỉnh (website) với tên miền hoạt động trên hạ tầng internet:  www.tinhuygialai.org.vn .      Website này hoạt động trên mạng diện rộng cơ quan Đảng thông qua hệ thống truyền thông tại Trung tâm Công nghệ thông tin Văn phòng Tỉnh ủy và được kết nối trên hạ tầng internet. Các cơ quan, đơn vị, cá nhân đều có quyền truy cập khai thác thông tin trên website thông qua địa chỉ trên. Ngoài ra, toàn bộ việc điều hành trang thông tin điện tử của Đảng bộ tỉnh như: đảm bảo hạ tầng kỹ thuật phục vụ hoạt động của website, đảm bảo an toàn thông tin, nội dung của website cũng như thành lập Ban biên tập, xây dựng quy chế hoạt động và lập dự toán kinh phí hàng năm đều do Văn phòng Tỉnh ủy tỉnh Gia Lai quản lý.     XP       [Nguồn:  http://www.tinhuygialai.org.vn/index.php?option=com_content&amp;view=article&amp;id=319:-ban-hanh-trang-thong-tin-in-t-ng-b-tnh-gia-lai&amp;catid=cong-ngh-thong-tin&amp;Itemid=235 ]  
</content> 
</entry> 
 
 <entry> 
 <id>tag:www.vnweblogs.com,2011-01-28:277442</id>
 <title>Xem tuổi x&amp;ocirc;ng đất, xuất h&amp;agrave;nh đầu năm</title> 
 <link rel="alternate" type="text/html" href="http://dean165.vnweblogs.com/post/14795/277442" /> 
  
 <updated>2011-01-28T15:16:02+07:00</updated> 
 <summary type="text"> Theo GS Hoàng Tuấn, Chủ tịch Hội Văn hóa Á đông, hướng tốt để xuất hành ngày mùng 1 là Tây Nam, Đông Bắc, Tây Bắc, giờ hoàng đạo là 5-7h, 9-11h, 15-17h. ...</summary> 
 <author> 
  
 <name>dean165</name> 
</author> 
<dc:subject>
Chăm sóc 
</dc:subject> 
 <content type="text" xml:lang="vn" xml:base="http://dean165.vnweblogs.com"> 
  Theo GS Hoàng Tuấn, Chủ tịch Hội Văn hóa Á đông, hướng tốt để xuất hành ngày mùng 1 là Tây Nam, Đông Bắc, Tây Bắc, giờ hoàng đạo là 5-7h, 9-11h, 15-17h. Tuổi hợp xông nhà năm Tân Mão là Mùi, Hợi, Tuất.    Nằm trong ngõ nhỏ trên phố Giảng Võ (Hà Nội), một tuần nay, nhà thầy Lâm khá nhộn nhịp, điện thoại reo liên hồi vì có người đặt lịch hẹn. Đa số thân chủ đến xem là các chị em, nhiều người là dân văn phòng. Sau khi thân chủ đọc ngày tháng năm và giờ sinh, thầy Lâm nhập dữ liệu vào máy tính rồi in ra bản tử vi. Nhìn vào trang giấy, ông thầy ngoài tứ tuần đọc vanh vách vận hạn từ năm cũ đến năm tới, gia đình nội ngoại, đến các tuổi xông nhà, ngày xuất hành, giờ mở hàng của thân chủ.       Lễ chùa đầu năm là phong tục của người Việt. Ảnh minh họa:  Hoàng Hà.     Ngồi đợi đến lượt, chị Vui, một cán bộ văn phòng, cho biết, cứ cuối năm là chị đi xem tử vi cho năm mới, để biết đường công danh, đường làm ăn cho cả hai vợ chồng, nhất là xem tuổi ai xông đất, hướng xuất hành... &quot;Cứ đi xem cho chắc, có kiêng có lành, nhỡ chọn người xông đất không hợp tuổi thì dông cả năm&quot;. Sau khi được thầy phán năm Tân Mão này có nhiều tin mừng, cả về con cái, nhà cửa, chị gọi điện ngay về cho chồng khoe tin vui.     Tuy nhiên, chị Linh, quận Hoàng Mai băn khoăn, thầy bảo vợ chồng chị tuổi Sửu thì phải người tuổi Tỵ hoặc Dậu, Tý xông nhà, nhưng hiện không biết nhờ ai có tuổi này để xông đất. Có năm chị nhờ người bạn đến xông đất song người này đến muộn, khiến cho chồng và con chị đi chơi về mà không được vào nhà, phải đứng ngoài trời rét cả tiếng.     Sau khi nghe thầy phán, nét buồn vui hiện rõ trên từng khuôn mặt. Có người hồ hởi vì thầy phán trúng lớn, mua được nhà, có người lo lắng vì gặp hạn, gặp sao xấu như Thái Bạch, La Hầu... Và họ lại nên kế hoạch làm lễ giải hạn.     Ngày cuối năm, trên các diễn đàn gia đình, các mẹ các chị sôi nổi bàn tán địa chỉ xem tử vi, bói toán tại Hà Nội.. Tuy nhiên nhiều người phản đối việc bói toán sau nhiều lần &quot;dở khóc dở cười&quot;. Chị Thu, tuổi đã ngoài 30 mà vẫn chưa chồng, kể, chị đi xem chỗ nào cũng bảo có người âm đang theo, cần phải cắt tiền duyên. Song chị đã &quot;cắt&quot; tại 4 ông thầy mà tình duyên vẫn chưa thuận. Năm vừa rồi thầy bói bảo gia đình chị có tang làm cả nhà lo lắng, mất ăn mất ngủ khi có người bị bệnh. Cuối năm, chị đi xem lại thì thầy lại bảo là có người dưới âm đỡ cho nên tai qua nạn khỏi.     &quot;Không nên tin vào các thầy để rước lo vào người, chỉ nên xem tuổi xông nhà, giờ xuất hành thôi&quot;, chị Thu kết luận.     Theo Theo Thượng tọa Thích Thanh Quyết, Viện phó Viện Phật giáo, theo tục lệ ngày đầu xuân, người Việt thường chọn người, chọn tuổi tới nhà xông đất, xuất hành hái lộc, mong sao cho gia đình, con cháu được trọn một năm an khang. Để xuất hành được thuận lợi, người xưa rất chú trọng việc chọn lựa giờ giấc để bước chân ra khỏi cửa. Tuy nhiên, ngày nay, nếu ai không tìm được hướng xuất hành thì có thể ra chùa làm lễ, rồi khởi hành hướng nào cũng được.     Thầy Thích Thanh Quyết cũng cho rằng, không nên quá căn ke vào tuổi người xông nhà. Người được chọn xông nhà chỉ cần có tính tình xởi lởi, thoáng đạt, vui vẻ sẽ tạo không khí hòa hợp tốt lành cho gia chủ. Nên tránh những người khó tính, gia đình khó khăn khi nhờ xông nhà.     GS. TSKH Hoàng Tuấn, Chủ tịch Hội Văn hóa Á Đông, cho biết, hướng tốt để xuất hành ngày mùng 1 năm Tân Mão là hướng Tây Nam hoặc Đông Bắc, Tây Bắc, giờ Hoàng Đạo 5-7h, 9-11h, 15-17h.    Ngày mùng 2 Tết, hướng tốt nhất là chính Đông, Đông Nam, chính Nam, chính Bắc. Các hướng không tốt là Tây Bắc, Tây Nam, Đông Bắc, chính Tây.     Giờ Hoàng Đạo là Thìn (7-9h), Tị (9-11h) và Mùi (13-15h).     Các chuyên gia cũng cho biết, các tuổi hợp xông nhà năm Tân Mão là Mùi, Hợi, Tuất. Ngoài ra, có thể chọn người xông nhà theo tuổi thân chủ, như người tuổi Tý nên chọn người tuổi Thân, Thìn, Sửu, hoặc người tuổi Ngọ chọn tuổi Dần, Tuất, Mùi...     Đoàn Loan     [Nguồn:  http://vnexpress.net/gl/xa-hoi/2011/01/3ba25e9d/ ]  
</content> 
</entry> 
 
 <entry> 
 <id>tag:www.vnweblogs.com,2011-01-28:277429</id>
 <title>Đọc 300 thư Trịnh C&amp;ocirc;ng Sơn gửi người t&amp;igrave;nh đầu ti&amp;ecirc;n</title> 
 <link rel="alternate" type="text/html" href="http://dean165.vnweblogs.com/post/14795/277429" /> 
  
 <updated>2011-01-28T14:40:31+07:00</updated> 
 <summary type="text">  Ngày 1/4/2011, đúng mười năm sau ngày nhạc sĩ Trịnh Công Sơn rời cõi tạm để rong chơi chốn vĩnh hằng, bà Dao Ánh – người tình đầu tiên – một trong ...</summary> 
 <author> 
  
 <name>dean165</name> 
</author> 
<dc:subject>
Trải nghiệm 
</dc:subject> 
 <content type="text" xml:lang="vn" xml:base="http://dean165.vnweblogs.com"> 
   Ngày 1/4/2011, đúng mười năm sau ngày nhạc sĩ Trịnh Công Sơn rời cõi tạm để rong chơi chốn vĩnh hằng, bà Dao Ánh – người tình đầu tiên – một trong những người tình đã mãi mãi bất tử bằng những ca khúc của ông - sẽ cho công bố hơn 300 bức thư tình của Trịnh Công Sơn gửi cho bà.      Trịnh Công Sơn đã nói tiếng yêu em bằng ngôn ngữ thật đẹp, là bản chúc thư ca ngợi tình yêu, là thân phận, là những dằn vặt triền miên về kiếp người. Người ta nói nghệ thuật là đời sống riêng biệt, hiếm hoi. Trong trường hợp này, dường như tình yêu đã làm nên những cảm xúc để từ đó ra đời những tình khúc huyền thoại để lại cho cuộc đời.      Sau gần nửa thế kỷ, hơn ba trăm bức thư tình mới được chủ nhân của nó tiết lộ, hé mở phần sâu thẳm trong trái tim một nhạc sĩ tài hoa, gắn với một thời đoạn khai sinh những ca khúc bất hủ về tình yêu và thân phận...        Bà Dao Ánh chụp hình cùng NS Trịnh Công Sơn lần trở lại năm 1998.     25 tuổi, tốt nghiệp trường Sư phạm Quy Nhơn, Trịnh Công Sơn đã chọn B’lao, một thị trấn chênh vênh giữa những tầng mây để sống như một kẻ ẩn dật, ôm theo mối tình si với người con gái xứ Huế mang tên Dao Ánh.    Bức thư đầu tiên anh gửi ngày 17/9/1964, với những lời mở đầu như một tiếng reo vui “Dao Ánh, Dao Ánh, Dao Ánh…”. Nét chữ của anh hồi ấy nắn nót như những nốt nhạc: “Anh cảm ơn Ánh nghìn lần đã yêu thích thiên-đàng-sương-mù của anh. Anh sẽ cố gắng yêu thích lấy nó đến bao giờ không thể. Ở đây có cái tự do của con người mỗi ngày chỉ thấy mình và trời đất…”.     B’lao bỗng hiển hiện thật rõ nét với hình ảnh một người đàn ông mơ mộng trầm tư ngày ngày chỉ có một niềm vui duy nhất là ra bưu cục đón nhận những bức thư. Anh viết về những ngày dài hoang vu, những buổi sáng thức dậy trong im lặng, những buổi tối trăng non… Anh gọi tên Dao Ánh không biết bao nhiêu lần trong thinh không… Anh dệt lên trong tâm tưởng một hình ảnh thật trinh nguyên, một Dao Ánh với “mái tóc thật dài, với tâm hồn lá non và tiếng cười hồn nhiên như một buổi sáng mùa xuân…”. Bắt gặp đâu đó trong những cuộc hẹn hò bất thành của anh là những giận hờn, trách cứ như biết bao người đàn ông khác trong tình yêu. Nhưng trách cứ của anh sao mà dịu dàng, sao mà ngọt ngào, yêu thương.          Thủ bút của Trịnh Công Sơn.     Những kỷ niệm đẹp nhất giữa hai người đã trở thành cái cớ cho những suy tư về thân phận, về chiến tranh, về tình yêu của Trịnh Công Sơn tuôn trào. Hay có lẽ cái khoảng cách vời vợi giữa một tình yêu quá mộng mị đã giúp anh soi rọi một cách trầm tĩnh nhất vào cái hố thẳm của riêng mình, để gọi tên những cảm xúc cho Phúc âm buồn, Tuổi đá buồn, Lời buồn thánh, Như cánh vạc bay, Chiều một mình qua phố… Dao Ánh còn giữ lại nguyên vẹn bản viết tay đầu tiên của Mưa hồng, Tuổi đá buồn với lời đề tặng “bản của Ánh đó”. Suốt cả mùa hè năm 1965, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn lơ lửng giữa sự sống và cái chết, với những cơn hôn mê trước giấc ngủ của một kẻ tuyệt vọng cùng cực. Những ca khúc phản chiến, kêu gọi hoà bình rúng động lòng người đã ra đời chính trong thời điểm này, như Ca dao mẹ, Lại gần với nhau, Người con gái Việt Nam da vàng... Những ca khúc tranh đấu quyết liệt để giành lại quyền sống, để được làm người.    Trịnh Công Sơn dạy tại B’lao chỉ ba năm, từ 1964 đến 1967, ba năm đều đặn với hơn ba trăm bức thư tình. Quả thật anh là người viết thư tình lãng mạn nhất của thời đại. Bức thư đầu tiên anh nói lời cảm ơn, và bức thư chia tay cuối cùng, anh cũng nói lời cảm ơn. Mỗi lá thư của anh như một đoản văn đầy chất thi ca, chứa đựng tâm trạng lo âu, dằn vặt triền miên về kiếp người, lòng tin vào những điều tốt đẹp đang dần mất đi trong cõi nhân gian. Đây thực sự là mảng văn chương ấn tượng trong cuộc đời nghệ thuật của Trịnh Công Sơn, bên cạnh gia tài đồ sộ về âm nhạc của anh.                          Năm 1993, Dao Ánh đã trở lại Việt Nam, và gặp lại Trịnh Công Sơn. Xin trả nợ người đã được anh viết liền một mạch vào đêm mùng ba tết năm ấy. Dưới bản nhạc anh viết tặng Dao Ánh là một tiếng thở dài đau nhói: “Nỗi buồn xin lỗi bàn tay/Tấm thân hiu quạnh ngồi say một mình…” Dao Ánh đã ly dị chồng ngay sau cuộc hội ngộ buồn bã này.    Những lời cuối cùng anh viết cho Dao Ánh là những ngày anh nằm trên giường bệnh. Anh không thể cầm bút được, nên phải đọc cho người bạn Sâm Thương viết giùm mình, và gửi qua email. Vẫn là những lời an ủi thật dịu dàng: “Ánh cố gắng tìm được những niềm vui nhỏ nhắn trong cuộc sống bình thường là quý giá lắm rồi. Chúc Ánh một cái tết thú vị dù chỉ một mình hay với người khác…”.          Bà Dao Ánh - người tình đầu tiên của NS Trịnh Công Sơn.     Hơn bốn mươi năm đã qua, bao tao loạn, thăng trầm, chiến tranh liên miên, rồi lấy chồng, sang Mỹ... vậy mà Dao Ánh vẫn cất giữ nguyên vẹn những bức thư tình, những chiếc phong bì, kể cả từng chiếc lá dã quỳ anh ép trong thư, cả những giọt nến anh đốt lên để viết tên chị... Nhưng có một điều ít ai biết, là lúc đó Ngô Vũ Dao Ánh, em gái của Ngô Vũ Bích Diễm (nhân vật của Diễm xưa), chỉ mới… mười lăm tuổi.    Không ít người thắc mắc tại sao đến giờ này, Dao Ánh mới chịu công bố những bức thư tình. Chính chị đã phải trải qua những ngày dài đắn đo, nên mười năm sau ngày mất của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, chúng ta mới được chiêm ngưỡng nó. Trong thư gửi Trịnh Vĩnh Trinh, em gái Trịnh Công Sơn, Dao Ánh viết: “Hãy nghĩ về anh Sơn không phải chỉ để dành riêng cho một con người, một gia đình, một thành phần cụ thể nào cả… Dù cho mình có yêu thương anh Sơn thế nào đi nữa thì anh đã là một vĩ nhân rồi, và theo hướng nhìn đó anh đã là của tất cả mọi người. Dao Ánh đã tập nghĩ cho mình như thế, để có thể giao phó tập thơ này cho gia đình xuất bản, như một món quà để lại cho thế hệ đời sau và văn chương Việt Nam…”.          Bà Dao Ánh (áo dài màu sẫm) chụp chung cùng gia đình nhạc sĩ trong đêm nhạc Trịnh Công Sơn ở Vũng Tàu năm 2008. Ảnh: Nguyệt Vy     Nhà thơ Nguyễn Duy, người được gia đình Trịnh Công Sơn tin cậy giao phó việc biên tập và xuất bản tác phẩm Thư tình gửi một người, thổ lộ: “Đọc hết ba trăm hai mươi bức thư tình, tôi gần như choáng váng. Cảm ơn những người tình như Dao Ánh đã biết gìn giữ tình yêu của anh Sơn trong bốn mươi sáu năm qua, tức là gần nửa thế kỷ. Dao Ánh vừa là một tình yêu rất cụ thể, đồng thời là một tình yêu biểu tượng. Một tình yêu cụ thể đã chấm dứt, nhưng biểu tượng tình yêu thì bất tử với thời gian…”.    B’lao, Ngày 25/Mars/1967    Bây giờ đã quá khuya, chương trình chuyên đề về tình yêu còn để lại một vị đắng rất mỏng. Mọi người cũng đã ngủ từ lâu và anh cũng phải quyết định một lần cho Ánh lẫn cho anh. Một quyết định thật khó khăn và chẳng ai trong cuộc dám dứt khoát với chính mình. Quyết định nào cũng có sự khổ sở của nó. Anh cam đành là kẻ bội bạc để mở ra cho Ánh sự ngạt thở bấy lâu trong đó người này hay kẻ kia đã cố gắng đóng cho trọn vai trò của mình. Cho đến phút này anh vẫn cảm thấy chỉ riêng mình anh đã sống thật hồn nhiên trong tình yêu đã qua.     “Chúng mình chấm dứt tình yêu đó ở đây”     Hãy xem mọi lầm lỗi đều ở anh cả và sau quyết định này là một lối ngỏ thênh thang trên đó Ánh hãy đi vào những phiêu lưu mới đừng ăn năn, đừng băn khoăn gì cả. Tất cả đã rõ như một khoảng trắng. Cũng đành vậy thôi.     Anh đã nhìn tình yêu ở một độ cao nhất của thuỷ triều. Quyết định như không thuộc về anh. Anh xin cảm ơn bốn năm ròng rã nâng niu tình yêu đó. Cũng xin cảm ơn những buổi đợi chờ thật dịu dàng không bao giờ còn có được. Để vĩnh biệt nhau trong tình yêu đó anh chỉ muốn khuyên Ánh, trong tương lai hãy tự tin hơn và bớt suy tính.     Anh đã bất lực không cứu vãn gì được cho tình yêu của mình. Thêm một lần đánh mất và thất lạc những vàng son.     Đã viết quá dài ngoài ý muốn nhưng nói một lần mà cho tất cả về sau.     Cầu mong thật nhiều bình an cho Ánh và đời đời hạnh phúc trong những dự tính mới ở tương lai.     Thân yêu     Trịnh Công Sơn      Theo Sài Gòn Tiếp Thị số Xuân Tân Mão   
</content> 
</entry> 
 
 <entry> 
 <id>tag:www.vnweblogs.com,2011-01-28:277416</id>
 <title>Trong b&amp;oacute;ng ng&amp;ocirc;i nh&amp;agrave; xưa</title> 
 <link rel="alternate" type="text/html" href="http://dean165.vnweblogs.com/post/14795/277416" /> 
  
 <updated>2011-01-28T13:32:26+07:00</updated> 
 <summary type="text"> Gia đình ông bà ngoại tôi được liệt vào gia đình địa chủ. Nhưng những chuyện đau lòng đã không xảy ra với một gia đình địa chủ như gia đình ông bà ...</summary> 
 <author> 
  
 <name>dean165</name> 
</author> 
<dc:subject>
Trải nghiệm 
</dc:subject> 
 <content type="text" xml:lang="vn" xml:base="http://dean165.vnweblogs.com"> 
  Gia đình ông bà ngoại tôi được liệt vào gia đình địa chủ. Nhưng những chuyện đau lòng đã không xảy ra với một gia đình địa chủ như gia đình ông bà ngoại tôi. Có lẽ vì là địa chủ nhưng ông bà ngoại tôi đã che giấu cán bộ Việt Minh trong những năm làng tôi nằm trong vùng tạm chiếm và hai bác tôi đi theo cách mạng hoạt động bí mật từ năm 18 tuổi.    Bây giờ ông bà ngoại tôi, các bác tôi và cả mẹ tôi cũng đã thành người thiên cổ. Các anh con các bác tôi hầu hết công tác ở thành phố đã nghỉ hưu nhưng cũng chẳng ai về sống ở quê. Chỉ còn lại một người anh dạy học ở quê và trông coi ngôi nhà ấy luôn. Khi tôi khoảng 10 tuổi thì hầu như ngày nào tôi cũng đến nhà ông bà ngoại vì cùng làng. Một trong những điều đặc biệt lôi cuốn tôi đến đó là nhà ông bà ngoại tôi có một tủ sách với gần 2000 đầu sách.  Trong những năm tháng xa xưa ấy mà một gia đình nông thôn có tủ sách như vậy quả là một điều kỳ lạ. Có được tủ sách ấy là vì một người bác tôi làm cán bộ nghiên cứu lịch sử Đảng và một người con trai bác tôi có ước mơ trở thành nhà văn. Sau ày khi tôi viết văn, anh con bác tôi thường bảo tôi viết văn là do dòng máu bên ngoại. Anh tôi dạy học. Có bao nhiêu tiền chỉ để giành mua sách. Mỗi năm nghỉ hè, anh tôi lại kéo một chiếc xe ba gác chở sách đi gần 20 cây số từ trường về nhà.    Những buổi trưa mùa hạ, tôi thường chọn bất cứ một cuốn sách nào trên giá sách và ra vườn. Tôi trải chiếu dưới gốc cây khế bên cạnh chiếc hồ bán nguyệt trước nhà ông bà ngoại nằm đọc sách. Hồi ấy, chiếc hồ bán nguyệt thả bèo tai chuột để làm trong nước. Thành giếng phủ kín rêu. Ngày đó, tất cả những chiếc giếng trong làng đều thả bèo tai chuột hoặc bèo ong.          Trong bóng ngôi nhà xưa trùm phủ, tôi như được trở về những năm tháng xưa mà tôi tưởng chẳng còn cơ hội nào trở về nữa. Ảnh: khuquanhanh.vn     Trước cửa nhà ông bà ngoại tôi là một chiếc bể khổng lồ đựng nước mưa có mái vòm. Mỗi khi thau bể, các anh tôi phải buộc nối hai chiếc thang tre mới bắc được đến đáy bể. Tôi đã một lần được các anh cho leo thang xuống bể. Không khí trong bể mát lạnh. Tôi thích kêu lên &quot; oa oa&quot; cho tiếng kêu của tôi vọng mãi trong vòm bể rộng. Chiếc bể đựng nước mưa bây giờ vẫn còn sử dụng, nhưng chiếc giếng bán nguyệt thì bị bỏ hoang. Đã nhiều lần tôi nói với anh tôi tu sửa lại chiếc giếng để thả lại bèo tai chuột hoặc trồng sen nhưng vì lý do gì đó mà anh tôi không làm.    Trong tháng Mười vừa qua, tôi về quê sửa lại ngôi nhà của bố mẹ tôi. Tôi sửa lại ngôi nhà ấy theo những gì tôi biết khi còn nhỏ. Sau chiến tranh, ngôi nhà của tôi ở quê bị thay thế bằng những vật liệu thời hiện đại. Và nó mất đi vẻ đẹp và sự gần gũi lạ lùng thuở trước. Tôi bóc hết lớp gạch men Trung Quốc loáng bóng lát nền nhà và thay vào đó là gạch bát đỏ. Hàng cột xi măng dọc hiên nhà được trả lại bằng những cái cột gỗ lõi mít. Chân kê cột là những phiến đá xanh được đục bằng tay. Những phiến đá xanh kê cột này tôi tìm thấy vứt lăn lóc trong góc vườn của ông bà ngoại tôi bị cỏ dại mọc trùm lên. Các anh tôi đã sửa ngôi nhà của ông bà ngoại tôi bằng những vật liệu hiện đại bóng bẩy. Vì thế các anh tôi vứt hết những phiến đá kê cột có hàng trăm năm ra góc vườn. Khi ngôi nhà sửa xong, tôi run lên vì vẻ đẹp giản dị và ấm áp của nó. Tôi đã ngồi trên hiên nhà suốt buổi chiều trong tĩnh lặng để cho ký ức và hình ảnh xưa của ngôi nhà trở về.    Trong bóng ngôi nhà xưa trùm phủ, tôi như được trở về những năm tháng xưa mà tôi tưởng chẳng còn cơ hội nào trở về nữa. Và ở nơi ký ức tôi trở về ấy, tôi gặp lại ông bà nội tôi, gặp lại bố mẹ tôi. Chính những hình ảnh của ngôi nhà, không gian của ngôi nhà và màu sắc xa xôi của ngôi nhà như những tấm gương phản chiếu quá khứ. Trong những tấm gương ấy, tôi được nhìn thấy những gì đã biến mất. Nó làm cho tâm hồn tôi ngập tràn những điều kỳ diệu và thân yêu mà tôi đã có nhưng cứ chập chờn đâu đấy như ở tận chân mây cuối trời.    Trong bộ phim Bố Già, tôi xúc động khôn nguôi về một hình ảnh cho dù xem bộ phim đó cả chục lần. Đó là hình ảnh trùm mafia Michael trở về ngôi nhà cổ của ông bà ông ta ở vùng đảo Sicily khi ông ta đã già và từ giã công việc của một trùm mafia. Michael không ở lại New York trong những biệt thự sang trọng mà trở về và chết trong ngôi nhà đó. Tôi nghĩ đó là quà tặng của cuộc đời này cho ông ta. Nhì ngôi nhà của ông bà, cha mẹ ông trùm Michael, tôi thấy vô cùng thân thương cho dù ngôi nhà đó không có một sợi dây liên hệ nào với tôi. Nhưng vẻ đẹp giản dị, thẳm sâu và bình yên của nó làm tôi vô cùng xúc động.    Những buổi chiều trong ngôi nhà của ông bà ngoại tôi là những buổi chiều thẳm sâu ký ức. Bên ô cửa gỗ nhỏ mở ra vườn là bộ tràng kỷ cổ. Tôi trở về và thường thích ngồi vào đó. Ngôi nhà buổi chiều loang lổ bóng tối. Thứ ánh sáng như thế trong ngôi nhà thường gợi mở và đưa tôi trở về quá khứ. Một quá khứ của bà ngoại tôi ngồi nhai trầu và kể cho lũ cháu nghe những câu chuyện xa xưa. Một ký ức của đời sống thôn quê giản dị và thanh tao. Một ký ức của đời sống thanh bình và chầm chậm như sự mở cánh của những bông hoa nhài bên cạnh chiếc bể nước có mái vòm cổ kính mọc đầy rêu và có cả&#160; một hai khóm dương xỉ. Những lúc như thế, tôi thấy toàn bộ những người thân yêu trong gia đình ông bà ngoại tôi đã mất hiện về.    Tôi không làm sao có được cảm giác ấy trong những ngôi nhà bê tông, mái bằng&#160; quét màu xanh đỏ đang ngày càng mọc lên ở các làng quê và giết dần giết mòn những gì làm lên văn hóa ngàn đời của những làng quê đó. Nửa năm trước, chiếc cổng ngõ vào nhà ông bà ngoại tôi cũng bị các anh tôi phá đi để xây một cái cổng mới có cửa sắt. Khi nhìn chiếc cổng đó, tôi như kẻ bị cướp đi mất một nửa ký ức.    Tôi không có quyền trách móc các anh tôi. Nhưng tôi thấy lòng hoang mang và ngập tràn một nỗi buồn. Chiếc cổng xưa với một dòng chữ nho mà tôi cũng chưa một lần có nhu cầu biết nội dung dòng chữ ấy luôn luôn làm tôi xúc động khi bước qua đó. Sau cái cổng ngõ đã sứt mẻ đôi chỗ và có cả một cây si mọc trên mái cổng do một con chim ăn quả si thả hạt lên đó là một thế giới tinh thần của tôi. Nhưng giờ đây đã đổi thay. Cái cổng đó là cái cổng để tôi có thể đi từ hiện tại về quá khứ để gặp lại những người thân yêu đã khuất giờ như bị lấp, bị bịt đi một nửa.     Nguyễn Quang Thiều     [Nguồn:  http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2011-01-27-trong-bong-ngoi-nha-xua ]  
</content> 
</entry> 
 
 <entry> 
 <id>tag:www.vnweblogs.com,2011-01-28:277352</id>
 <title>Qua miền suy tưởng</title> 
 <link rel="alternate" type="text/html" href="http://dean165.vnweblogs.com/post/14795/277352" /> 
  
 <updated>2011-01-28T07:41:55+07:00</updated> 
 <summary type="text"> Tôi cố tìm chút tĩnh lặng khi ở trên núi Linh Thứu, tìm sự thanh thản trong vườn Lâm Tì Ni, tìm sự yên tĩnh dưới chân tháp đại giác của Bồ Đề Đạo ...</summary> 
 <author> 
  
 <name>dean165</name> 
</author> 
<dc:subject>
Trải nghiệm 
</dc:subject> 
 <content type="text" xml:lang="vn" xml:base="http://dean165.vnweblogs.com"> 
  Tôi cố tìm chút tĩnh lặng khi ở trên núi Linh Thứu, tìm sự thanh thản trong vườn Lâm Tì Ni, tìm sự yên tĩnh dưới chân tháp đại giác của Bồ Đề Đạo Tràng, tìm sự an lạc trong vườn nai nơi Đức Phật giảng đạo, nhưng đã không tìm thấy được gì. Tôi hiểu ra được một điều, với tôi hay cũng có thể với nhiều người, khi tâm mình không là Phật thì dù có đi hết thánh địa Phật giáo cũng không thể an lạc và vô ưu.     Miền vô ưu     Vườn Lâm Tì Ni ở Nepae có loài hoa asoka rực rỡ. Theo tiếng Phạn asoka có nghĩa là không gây ra ưu phiền. Năm 563 trước công nguyên, hoàng hậu Mahamaya đã hạ sinh thái tử Tất Đạt Đa dưới gốc cây hoa vô ưu. Vị thái tử đó đã vào cõi vô ưu, còn những người đi theo ngài vẫn đang cố tìm kiếm một giây phút không ưu phiền nhưng khó lắm thay.           Hai miền biên giới giáp Ấn Độ và Nepal được xem là một vùng đất lành. Người ta tin rằng, ở đâu có chim hồng hạc bay về thì nơi đó thanh bình, an ổn. Đức Phật cũng chọn cái nơi chim hồng hạc sống để sinh ra. Nhưng bao nhiêu năm đi qua thì ở nơi này chịu bao nhiêu nỗi nhọc nhằn của chiến tranh, nghèo khổ. Hôm tôi đến, ở ngay biên giới, quân đội hai bên trang bị súng ống, trông mặt mày ai cũng dữ dằn, căng thẳng. Trên đường nội địa của Nepal, người ta chồng chất nhau trên các loại xe, vung cờ và khẩu hiệu đi biểu tình phục vụ cho các phe nhóm khác chính trị. Trên đường đi qua biên giới Ấn Độ - Nepal, hai bên cảnh vật không có gì đặc biệt, đất đai khô cằn, nhà cửa lụp xụp, khác với những gì người ta vọng tưởng về một cái nôi của Đức Phật đản sinh. Nhưng hầu hết người dân ở đây không theo đạo Phật, họ theo đạo Hindu. Trẻ con, người lớn phơi giữa nắng không cần nón mũ, áo quần rách rưới đến thê thảm. Tôi không thể hình dung được người ta sống như thế nào trong những căn nhà tối tăm và dơ bẩn như vậy. Anh bạn hướng dẫn viên người Ấn nói với tôi: Ấn Độ là thế, luôn luôn là một bí ẩn, sự bí ẩn đó chứa đựng một ma lực hối thúc những suy tư của con người.    Phật tử muôn phương đổ về vườn Lâm Tì Ni để chiêm bái. Khói nhang nghi ngút, kinh cầu râm ran. Các dịch vụ kinh doanh xem ra cũng phát đạt. Ai đi tìm chân lý thì cứ đi, ai kinh doanh cứ kinh doanh. Du khách và các chủ cửa hàng tranh cãi nhau từng đồng bạc. Người ăn xin đeo bám rất đông. Ai đó tuy mới nguyện cầu với tấm lòng chan chứa từ bi bên gốc vô ưu, nhưng cũng khó tránh một lời nói nặng với những người ăn xin quá sức lì lợm. Ở vườn vô ưu nhưng cũng lắm thứ ưu phiền. Tôi thấy cảnh này quen quen như ở nhiều chùa chiền, đền thờ của Việt Nam. Lạy lục khấn vái và xin Phật rất nhiều điều. Họ bỏ ra một ít tiền nhưng mặc cả rất ghê. Có điều họ không hiểu rằng Phật chẳng có gì để mà cho.    Vì đây là đất thiêng liêng nên nhiều quốc gia xây dựng chùa. Các nước Phật giáo phát triển đều ghi danh ở Lâm Tì Ni bằng một ngôi chùa hoành tráng mang tên nước mình nên nơi đây trở thành một làng chùa quốc tế. Việt Nam Phật Quốc Tự cũng là một địa chỉ được nhiều người biết đến. Phật tử và du khách Việt Nam đến Nepal đều muốn đặt chân đến đây. Sự có mặt đó được xem như là căn duyên nên nhiều người cảm thấy tự hào. Ở Việt Nam Phật Quốc Tự cũng có những con chim hồng hạc, nhưng nó không tự do bay lượn mà bị &quot;quản thúc&quot; trong một phạm vi hẹp. Tôi cũng chuẩn bị tâm thế khi đến chùa, nhưng tìm mãi cũng không thấy được sự thanh tịnh. Có lẽ vì có nhiều du khách ồn ào, tranh nhau chụp ảnh, và cũng có thể do màu sắc sơn phết của chùa quá lòe loẹt. Chùa có quá nhiều thứ giả, những con trâu, con chim hồng hạc bằng xi măng, đường nét dại dột và thô thiển. Đi cho biết thôi, chứ với tôi, ngồi trước cổng chùa Từ Hiếu ở Huế tự nhiên thấy lòng bình an hơn nhiều.    Thành Ca Tì La Vệ gần Lâm Tì Ni. Thuở xa xưa Ca Tì La Vệ là vương quốc, Đức Phật là thái tử của vương quốc này. Thành Ca Tì La Vệ ngày nay là một phế tích, chỉ còn vài chân tường gạch nhỏ. Trên đường đi ngang qua một ngôi làng, đoàn của chúng tôi phát hiện một cậu bé đứng bên đường, mặt rất đẹp, đặc biệt là có đầu tóc xoăn từng múi như tóc của Đức Phật thường được thể hiện trên tranh ảnh hoặc tượng. Thế là mọi người đổ xô đến ôm cậu bé, có người còn nói nhờ cơ duyên mới gặp được một hình ảnh của Đức Phật trên quê hương của ngài. Sau khi tranh nhau ôm cậu bé, mọi người lại rút tiền ra cho. Thấy vậy, nhiều đứa bé khác trong làng ùa ra xin tiền. Chỉ có điều là chúng nó không có đầu tóc giống Đức Phật nên không được đồng nào.     Chiếc lá khô     Niềm tin tôn giáo bản thân nó là một sự bí ẩn, nhưng khi bước đến Bồ Đề Đạo Tràng, sự bí ẩn đó dường như càng &quot;thâm hậu&quot; hơn. Chỉ một khu đất nhỏ, một cây bồ đề Đức Phật thành đạo, một tháp Đại Giác sừng sững, nhưng đã thu hút tín đồ từ năm châu bốn bể. Họ ngồi dưới tán bồ đề cầu kinh, nhiều người mắc mùng để ngồi thiền thâu đêm. Nhiều người Châu Âu, người Mỹ cũng đến đây tu đạo. Không ít người còn rất trẻ, chừng trên dưới 30 tuổi, nhưng năm nào cũng đến đây 2 - 3 tháng để tu luyện. Hình ảnh ấn tượng nhất với tôi là khi họ thực hiện động tác lạy theo kiểu Tây Tạng. Từ tư thế thẳng đứng chuyển sang quỳ, rồi nằm xuống rạp người sát đất đồng thời đẩy hai tay thẳng về phía trước. Từ nằm, chuyển sang quỳ và đứng thẳng lên lại là hoàn thành một chu kỳ. Một lần lạy như vậy cũng không dễ, nhưng có nhiều người lạy liên tục hằng giờ. Lạy cả ngàn lạy. Tôi gặp một sư nữ đến từ Việt Nam, thực hiện tam bộ nhất bái theo kiểu Tây Tạng. Nhà sư đi ba bước thì đứng lại và lạy một lần. Cứ thế mà đi và lạy vòng quanh tháp Đại Giác suốt một buổi chiều. Có nhiều sư nữ sang Bồ Đề Đạo Tràng để tu tập. Họ thuê phòng trọ, ăn ở sinh hoạt rất khổ cực, nhưng họ rất vui tươi.    Phật tử các nơi đến Bồ Đề Đạo Tràng để tu đạo hoặc để thực hiện một tâm nguyện nào đó. Hầu như ai đến đây cũng cố nhặt cho mình một chiếc lá bồ đề để đem về làm kỷ vật. Có nhiều người còn nhặt một viên sỏi, một nắm đất hoặc một mẩu gạch vỡ ở các nơi Phật tích để đưa về nhà thờ phượng. Ở ngoài Bồ Đề Đạo Tràng, có nhiều cửa hàng bán lá bồ đề, lá được xếp ngay ngắn trong các túi ni-lông nhỏ. Tính ra rất rẻ. Người bán thì xem đó như một thứ vật phẩm bình thường, lượm để bán kiếm tiền, bán không hết thì vứt vào hộc. Người mua thì xem đó là một vật phẩm có ý nghĩa&#160; thiêng liêng tôn giáo. Cũng là chiếc lá khô đó, nhưng con người có cách tiếp cận khác nhau. Trong và ngoài đạo tràng cách nhau một bức tường. Bên trong thâm u tĩnh lặng và uy nghiêm, bên ngoài buôn bán ồn ào, trẻ em và người nghèo ăn xin chạy đua dành giật từng đồng bạc cắc. Nhiều người thò tay vào bên trong đạo tràng qua những song của bức tường để xin khách hành hương bố thí. Người hành hương cứ râm ran tụng kinh và dõi theo những điều cao siêu bí ẩn, không mấy ai quan tâm đến những cánh tay co quắp đang vòi vọi một chút tình thương.    Vài hôm sau, trong một dịp hành hương đến chùa Đại Niết Bàn, ở đó có tượng Đức Thế Tôn nằm trong tư thế kiết tường. Pho tượng có chiều dài 10 mét, được đặt trên một bệ hình chữ nhật cao khoảng sáu tấc. Đây cũng là nơi Đức Phật nhập diệt, cổ thành có tên Kushinagar. Tôi chứng kiến tận mắt nhiều đoàn phật tử đến từ các nước đi vòng quanh bức tượng, ai cũng cố gắng dành cho mình một khoảng trống để hôn lên bàn chân của Đức Phật. Một người bật khóc khi hôn lên bức tượng, thế là nhiều người cùng khóc theo, chân thành, yêu thương, tha thiết. Tất cả như ngập tràn hạnh phúc khi được khóc trước tượng của Đức Phật. Khi lên xe về khách sạn, tôi hỏi người đi cùng tại sao lại khóc. Cô trả lời vì thấy mọi người khóc nên không cầm được nước mắt.     Cá sông Hằng     Một buổi sớm tinh sương chúng tôi ngồi thuyền trôi trên sông Hằng chờ đón bình minh. Trên bờ, các lò thiêu người hoạt động, ánh lửa hắt lên và nhiều xác người được thả xuống sông. Thuyền sang bên kia bờ, mọi người bước xuống, lấy nước khỏa lên tóc, lên mặt&#160; như đang tắm bằng nước thiêng, có người lấy chai nước suối đựng nước sông Hằng, mang về nhà thờ cúng. Tôi thực sự ngạc nhiên về những việc đó của các Phật tử nhưng không dám hỏi.    Nắng lên, ánh sáng mặt trời soi rõ mặt sông, nước đục ngầu và dơ bẩn. Bên bờ, người ta giặt giũ, tắm gội, giữa sông có nhiều người đàn ông bơi lội. Rác và xác người thủy táng trôi dạt khắp sông. Đến giữa dòng, khi mọi người tụng kinh niệm Phật, thuyền chúng tôi bị nhiều chiếc thuyền nhỏ vậy quanh, họ bán những thùng cá cho du khách phóng sinh. Nhiều người trong đoàn mua và thả cá xuống sông Hằng, ngay lập tức có người khác đến bán. Người mua tin rằng mình đã làm một việc phúc đức trên sông Hằng, người bán hí hửng vì kiếm được tiền. Cứ như thế, việc bắt cá và việc phóng sinh diễn mãi. Thấy cảnh đó, tôi nghĩ nếu các vị này không mua cá phóng sinh thì những người kia sẽ không đi bắt cá làm gì, nên buộc miệng nói: &quot;Cách phóng sinh tốt nhất là đừng bao giờ phóng sinh&quot;. Hình như có người dừng lại không mua cá nữa.    Bước lên bờ, chúng tôi bị những người ăn xin vây chặt, nhiều phụ nữ bồng trên tay những đứa bé rất xinh nhưng trông quá đói khổ. Có một điều đáng suy nghĩ là du khách sẵn lòng bỏ nhiều tiền để mua cá phóng sinh, nhưng họ không sẵn lòng cho những đứa bé ăn xin vài đồng bạc. Nhiều người còn chạy thật nhanh lên xe để trốn những bàn tay bé xíu chìa ra trước mặt.     Tức cảnh sinh tình, không làm thơ được nhưng chợt nhớ bài thơ &quot;Đức Phật&quot; của nhà thơ lừng danh người Hàn Quốc - Ko Un: Con đường ra đi là con đường trở thành nhà sư/Con đường trở về là con đường trở thành Đức Phật/Nhưng ngươi chỉ có thể trở về khi thực sự ra đi.    Bút ký  Lê Thanh Phong     [Nguồn:  http://laodong.com.vn/Tin-Tuc/Qua-mien-suy-tuong/30922 ]  
</content> 
</entry> 
 
 <entry> 
 <id>tag:www.vnweblogs.com,2011-01-19:275469</id>
 <title>Tiểu sử t&amp;oacute;m tắt Tổng B&amp;iacute; thư Đảng Cộng sản Việt Nam kh&amp;oacute;a XI</title> 
 <link rel="alternate" type="text/html" href="http://dean165.vnweblogs.com/post/14795/275469" /> 
  
 <updated>2011-01-19T10:53:19+07:00</updated> 
 <summary type="text">  Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam NGUYỄN PHÚ TRỌNG                Họ và tên khai sinh : Nguyễn Phú Trọng.      Giới tính : Nam. ...</summary> 
 <author> 
  
 <name>dean165</name> 
</author> 
<dc:subject>
Tin tức 
</dc:subject> 
 <content type="text" xml:lang="vn" xml:base="http://dean165.vnweblogs.com"> 
   Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam NGUYỄN PHÚ TRỌNG                Họ và tên khai sinh : Nguyễn Phú Trọng.      Giới tính : Nam.      Họ và tên thường gọi : Nguyễn Phú Trọng.      Sinh ngày : 14-4-1944      Quê quán : Xã Đông Hội, huyện Đông Anh, Tp Hà Nội.      Nơi cư trú : Số 5 phố Thiền Quang, phường Nguyễn Du, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.      Dân tộc : Kinh&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;  Tôn giáo : Không      Trình độ học vấn : Giáo sư, Tiến sĩ       Trình độ chuyên môn : Giáo sư, Tiến sĩ Chính trị học (chuyên ngành Xây dựng Đảng); Cử nhân Văn -Đại học Tổng hợp.      Nghề nghiệp, chức vụ : Uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư Đảng Đoàn Quốc hội,Chủ tịch Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Ủy viên Hội đồng Quốc phòng và An ninh.      Nơi làm việc : Văn phòng Quốc hội, 37 Hùng Vương, quận Ba Đình, Hà Nội.      Ngày vào Đảng : 19-12-1967.      Ngày chính thức : 19-12-1968.      Tình trạng sức khỏe : Bình thường.      Khen thưởng : Được tặng thưởng nhiều Huy chương và Bằng khen.      Kỷ luật : Không.      Là đại biểu Quốc hội:  Khóa XI, XII      Đại biểu Hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2004-2011 : Không     Tóm tắt quá trình công tác      Từ 1963 đến 1967 : Học khoa Ngữ văn trường Đại học Tổng hợp Hà Nội.     Từ tháng 12/1967 đến 8/1973 : Cán bộ biên tập Tạp chí Cộng sản; năm 1971 đi thực tế ở Thanh Oai, Hà Tây.     Từ tháng 9/1973 đến 4/1976 : Nghiên cứu sinh khoa Kinh tế chính trị tại trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc (nay là Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh), Chi uỷ viên.     Từ tháng 5/1976 đến 8/1980 : Cán bộ biên tập Tạp chí Cộng sản, Phó bí thư chi bộ.     Từ tháng 9/1980 đến 8/1981 : Học Nga văn tại trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc.     Từ tháng 9/1981 đến 7/1983 : Thực tập sinh, tốt nghiệp PTS khoa học lịch sử (chuyên ngành Xây dựng Đảng) tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Liên Xô.     Từ tháng 8/1983 đến 02/1989 : Phó ban (1983-1987), Trưởng ban Xây dựng Đảng (1987-1989); Phó Bí thư, Bí thư Đảng uỷ Cơ quan Tạp chí Cộng sản (1985-1991).     Từ tháng 3/1989 đến 8/1996:  Uỷ viên Ban biên tập (1989-1990), Phó Tổng biên tập (1990-1991), Tổng biên tập Tạp chí Cộng sản (1991-1996).     Từ tháng 01/1994 đến nay:  Uỷ viên Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam các khoá VII, VIII, IX, X.     Từ tháng   8/1996 đến 02/1998 : Phó bí thư Thành uỷ Hà Nội, kiêm Trưởng ban cán sự Đại học, trực tiếp phụ trách Ban Tuyên giáo Thành uỷ Hà Nội.     Từ tháng 12/1997 đến nay : Uỷ viên Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam các khoá VIII, IX, X.     Từ tháng 2/1998 đến 01/2000 : Phụ trách công tác Tư tưởng - Văn hoá và Khoa giáo của Đảng.     Từ tháng 3/1998 đến 8/2006 : Phó chủ tịch (1998-2001), Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương, phụ trách công tác Lý luận của Đảng (2001-2006).     Từ tháng 8/1999 đến 4/2001 : Tham gia Thường trực Bộ Chính trị.     Từ tháng 01/2000 đến 6/2006 : Bí thư Thành uỷ Hà Nội (khoá XII, XIII, XIV).     Từ tháng 5/2002 - 5/2007 : Đại biểu Quốc hội khoá XI.     Từ tháng 5/2007 - đến nay : Đại biểu Quốc hội khoá XII.     Tại phiên họp toàn thể ngày 23/7/2007, Kỳ họp thứ nhất- Quốc hội khoá XII, đồng chí đã được Quốc hội tín nhiệm bầu lại làm Chủ tịch Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.      Từ tháng 7/2007 - đến nay:  Chủ tịch Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Bí thư Đảng Đoàn Quốc hội, Uỷ viên Hội đồng Quốc phòng và an ninh.    Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng chí được bầu làm  Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI .    [Nguồn:  http://www.na.gov.vn/htx/Vietnamese/C1323/#JeHQ242amQZk ]  
</content> 
</entry> 
 
 <entry> 
 <id>tag:www.vnweblogs.com,2011-01-19:275465</id>
 <title>Tiểu sử t&amp;oacute;m tắt 14 Ủy vi&amp;ecirc;n Bộ Ch&amp;iacute;nh trị</title> 
 <link rel="alternate" type="text/html" href="http://dean165.vnweblogs.com/post/14795/275465" /> 
  
 <updated>2011-01-19T10:31:59+07:00</updated> 
 <summary type="text">  ( Xếp theo thứ tự A, B, C)                                                                                                 Ông Lê Hồng Anh (62 tuổi, quê Kiên Giang), Bộ trưởng ...</summary> 
 <author> 
  
 <name>dean165</name> 
</author> 
<dc:subject>
Tin tức 
</dc:subject> 
 <content type="text" xml:lang="vn" xml:base="http://dean165.vnweblogs.com"> 
   ( Xếp theo thứ tự A, B, C)                                                                                                 Ông Lê Hồng Anh (62 tuổi, quê Kiên Giang), Bộ trưởng Công an, Ủy viên Bộ Chính trị khóa IX, X                            Ông Nguyễn Tấn Dũng (62 tuổi, quê Cà Mau), Thủ tướng, Uỷ viên Bộ Chính trị khoá VIII, IX, X.                            Ông Ngô Văn Dụ (64 tuổi, quê Vĩnh Phúc) Chánh Văn phòng Trung ương Đảng.                            Ông Lê Thanh Hải (61 tuổi, quê Tiền Giang), Bí thư Thành ủy TP HCM, Uỷ viên Bộ Chính trị khoá X.                            Ông Nguyễn Sinh Hùng (65 tuổi, quê Nghệ An) Phó thủ tướng, Ủy viên Bộ Chính trị khóa X.                                                                                                           Ông Đinh Thế Huynh (58 tuổi, quê Nam Định) Tổng biên tập báo Nhân dân, Chủ tịch Hội nhà báo Việt Nam.                            Ông Phạm Quang Nghị (62 tuổi, quê Thanh Hóa), Bí thư Thành ủy Hà Nội, Ủy viên Bộ Chính trị khóa X.                            Bà Tòng Thị Phóng (57 tuổi, quê Sơn La) Phó Chủ tịch Quốc hội.                            Nguyễn Xuân Phúc (57 tuổi, quê Quảng Nam) Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ.                            Ông Trần Đại Quang (55 tuổi, quê Ninh Bình), Thứ trưởng Bộ Công an.                                                                                            &nbsp;                                Ông Tô Huy Rứa (64 tuổi, quê Thanh Hóa) Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương, Uỷ viên Bộ Chính trị khoá X.                            Ông Trương Tấn Sang (62 tuổi, quê Long An) Thường trực Ban Bí thư; Uỷ viên Bộ Chính trị khoá VIII, IX, X.                            Ông Phùng Quang Thanh (62 tuổi, quê Hà Nội) Bộ trưởng Quốc Phòng; Ủy viên Bộ Chính trị khóa X.                            Ông Nguyễn Phú Trọng (67 tuổi, quê Hà Nội) Chủ tịch Quốc hội, Uỷ viên Bộ Chính trị khoá VIII, IX, X;                   &nbsp;             
</content> 
</entry> 
 
 <entry> 
 <id>tag:www.vnweblogs.com,2011-01-19:275456</id>
 <title>&amp;ldquo;Văn h&amp;oacute;a xếp h&amp;agrave;ng&amp;rdquo; đang xuống cấp!</title> 
 <link rel="alternate" type="text/html" href="http://dean165.vnweblogs.com/post/14795/275456" /> 
  
 <updated>2011-01-19T10:14:10+07:00</updated> 
 <summary type="text"> Chuyện xếp hàng chờ đến lượt tưởng như là điều rất bình thường, thể hiện một xã hội văn minh, hiện đại. Thế nhưng tại nhiều nơi, bên cạnh ...</summary> 
 <author> 
  
 <name>dean165</name> 
</author> 
<dc:subject>
Trải nghiệm 
</dc:subject> 
 <content type="text" xml:lang="vn" xml:base="http://dean165.vnweblogs.com"> 
  Chuyện xếp hàng chờ đến lượt tưởng như là điều rất bình thường, thể hiện một xã hội văn minh, hiện đại. Thế nhưng tại nhiều nơi, bên cạnh những người có ý thức xếp hàng thì vẫn xuất hiện cảnh chen lấn, xô đẩy nhau khiến nhiều người bức xúc.         Chen lấn, giẫm đạp nhau để mua vé xe về Tết.      Cận tết nhu cầu mua vé về quê ăn Tết tại bến xe miền Đông rất lớn. Chính vì thế hàng ngàn người dân đã ùn ùn kéo đến mua vé, và cứ như đã được định sẵn, cảnh chen lấn, ùn đẩy nhau trước quầy vé đã diễn ra. Cả phòng bán vé lớn ngộp hơi người như nổ tung với những tiếng gọi, la ó lẫn chửi thề.    Nhễ nhại len ra khỏi đám đông, anh Phạm Minh, quê Bình Định hổn hển: “đến đây từ sớm, vào chỗ xếp hàng đàng hoàng đó chứ, thế nhưng khi quầy vé vừa mở cửa, là người ta cứ ào ào lấn tới, chẳng cần biết ai đến trước ai đến sau”. Vì nhỏ người, anh Minh không trụ nổi, thế là đành về không cho dù đã đến bến xe từ rất sớm.    Không chỉ bến xe, ngay tại các siêu thị, việc sếp hàng mua sắm để dùng bữa tại cửa hàng thức ăn nhanh, vào bãi gửi xe … hầu như ta đều gặp việc xếp hàng hàng ngày.     Nhưng việc xếp hàng chờ đợi hình như nhiều người lại coi là vấn đề chỉ tồn tại trên … lý thuyết. Mỗi khi vào dịp lễ, Tết, cuối tuần lượng người đi mua sắm đông thì việc xếp hàng thường ít được để ý. Đa số mọi người lại tìm cách chen nhau, xô đẩy để cố giành phần trước.         Gửi xe vào bãi cũng nhiêu khê vì chen lấn.    Chị Thanh, đang cư ngụ tại đường Lê Quang Định, Q. Bình Thạnh cho rằng: “Cứ vào cuối tuần tôi lại đi bộ đến Co.opMart Đinh Tiên Hoàng để mua sắm. Chứ nếu đi xe đến, ngay từ khâu gửi xe cũng đã mất gần tiếng đồng hồ rồi. Thôi thì đi bộ cho đỡ phải chen lấn để gửi xe”.    Một nhân viên giữ xe tại siêu thị Co.opMart Đinh Tiên Hoàng cũng cho biết, vào những lúc cao điểm, nếu không có người đứng ra điều khiển thì rất dễ ùn tắc ngay trước cửa ra vào của bãi gửi xe.     “Đường vào bãi đã được thiết kế hẹp chỉ để 1 xe đi qua, tránh việc 2 – 3 xe lấn lên cùng lúc. Vậy mà nhiều người dù đến sau, cũng ráng ghé bánh xe chen ngang vào, thế là người trước không vào được, mà kẻ chen ngang cũng chẳng thể nhúc nhích, kẹt cứng cả làng. Nhiều lúc thấy bực cả mình”.    Anh Hoàng Trọng Tính (quận Bình Thạnh) lắc đầu nói: “Khi gặp cảnh đông đúc phải xếp hàng, đáng lý mọi người cần có ý thức để tiết kiệm cho nhau thời gian, công sức và cả tâm lý bực bội. Cần biết tôn trọng quyền ưu tiên theo thứ tự trước – sau nhưng ai cũng chỉ nghỉ cho bản thân, sợ bị “mất phần” nên đa số tự biến mình thành “chuyên viên chen lấn”.         Trước đây thời bao cấp người dân văn hóa xếp hàng được thực hiện rất tốt.    “Tôi còn nhớ, mấy cụ lớn tuổi kể trước đây khi còn bao cấp, việc xếp hàng chờ đến lượt mua nhu yếu phẩm vẫn được mọi người thực hiện rất nghiêm túc. Không có cảnh chen lấn và xô đẩy như hiện nay” anh Tính tâm sự với vẻ mặt buồn buồn.    Điều đáng buồn nhất là “văn hóa xếp hàng” của người Việt đang bị nhiều bạn bè quốc tế chê trách. Ông James Thorian, giảng viên của Trung tâm Anh ngữ Bộ Ngoại Giao, có thói quen đi đâu, làm gì cũng tránh giờ cao điểm. Ông James thường đến trung tâm vào lúc 4 giờ chiều, dù đến 7 giờ mới có lớp, để tránh kẹt xe ngoài đường và … tại bãi giữ xe của trung tâm.     Ông cũng có thói quen mua sắm vào lúc 9 giờ sáng hay 2 -3 giờ chiều để vắng người. Bởi vì theo ông James Thorian, tôi rất mệt mỏi khi đối diện với đám đông người nhốn nháo vào giờ cao điểm, và cũng không muốn “trở thành một người huých tới, lấn lui như người khác”.     Giá mọi người biết nhường nhịn và có ý thức xếp hàng khi đông người thì chắc sẽ thoải mái và dễ chịu hơn.     Hoài Lương – Văn Hoài     [Nguồn:  http://www.baomoi.com/Home/VanHoa/dantri.com.vn/Van-hoa-xep-hang-dang-xuong-cap/5575323.epi ]  
</content> 
</entry> 
 
</feed>
