<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<?xml-stylesheet href="http://www.vnweblogs.com/styles/rss.css" type="text/css"?>
<rss version="0.91">

 <channel>
  <title>Lớp tiếng Trung (khóa I) - Đề án 165</title>
  <link>http://dean165.vnweblogs.com</link>
  <description></description>
    <item>
   <title>C&amp;ocirc;ng h&amp;agrave;m 1958 với chủ quyền Ho&amp;agrave;ng Sa v&amp;agrave; Trường Sa của Việt Nam</title>
   <description> Gần đ&acirc;y Trung Quốc lu&ocirc;n r&ecirc;u rao c&aacute;i gọi l&agrave; họ c&oacute; chủ quyền kh&ocirc;ng thể tranh c&atilde;i đối với hai quần đảo Ho&agrave;ng Sa v&agrave; Trường Sa. Việc Trung Quốc diễn giải nội dung C&ocirc;ng h&agrave;m ng&agrave;y 14-9-1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng như l&agrave; một chứng cứ cho thấy Việt Nam đ&atilde; c&ocirc;ng nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo Ho&agrave;ng Sa v&agrave; Trường Sa l&agrave; hết sức phiến diện v&agrave; xuy&ecirc;n tạc nội dung, &yacute; nghĩa của bản C&ocirc;ng h&agrave;m đ&oacute;, ho&agrave;n to&agrave;n xa lạ với nền tảng ph&aacute;p l&yacute; của Việt Nam cũng như luật ph&aacute;p quốc tế, bất chấp thực tế kh&aacute;ch quan của bối cảnh lịch sử đương thời. C&oacute; thể n&oacute;i, giải th&iacute;ch xuy&ecirc;n tạc C&ocirc;ng h&agrave;m 1958 l&agrave; một trong chuỗi những h&agrave;nh động c&oacute; t&iacute;nh to&aacute;n nhằm tạo cớ, từng bước hợp thức h&oacute;a y&ecirc;u s&aacute;ch chủ quyền phi l&yacute; của họ đối với hai quần đảo Ho&agrave;ng Sa v&agrave; Trường Sa của Việt Nam. 
   
  Đảo N&uacute;i Le thuộc quần đảo Trường Sa  
  
  &nbsp;  
  &nbsp;  
 Theo l&yacute; giải của Trung Quốc, ng&agrave;y 4 th&aacute;ng 9 năm 1958, Thủ tướng Trung Quốc Chu &Acirc;n Lai đ&atilde; c&ocirc;ng khai tuy&ecirc;n bố với quốc tế quyết định của Ch&iacute;nh phủ Trung Quốc về hải phận 12 hải l&yacute; kể từ đất liền của Trung Quốc v&agrave; c&aacute;c đảo ngo&agrave;i khơi, bao gồm cả quần đảo T&acirc;y Sa v&agrave; Nam Sa (tức quần đảo Ho&agrave;ng Sa v&agrave; Trường Sa của Việt Nam). Sau đ&oacute;, ng&agrave;y 14-9-1958, Thủ tướng Ch&iacute;nh phủ Việt Nam D&acirc;n chủ Cộng h&ograve;a (VNDCCH) Phạm Văn Đồng gửi C&ocirc;ng h&agrave;m cho Thủ tướng Chu &Acirc;n Lai, nguy&ecirc;n văn như sau: 
  "Thưa Đồng ch&iacute; Tổng l&yacute;,  
  Ch&uacute;ng t&ocirc;i xin tr&acirc;n trọng b&aacute;o tin để Đồng ch&iacute; Tổng l&yacute; r&otilde;: Ch&iacute;nh phủ nước Việt Nam D&acirc;n chủ Cộng h&ograve;a ghi nhận v&agrave; t&aacute;n th&agrave;nh bản tuy&ecirc;n bố ng&agrave;y 4 th&aacute;ng 9 năm 1958 của Ch&iacute;nh phủ nước Cộng ho&agrave; Nh&acirc;n d&acirc;n Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc.  
  Ch&iacute;nh phủ nước Việt Nam D&acirc;n chủ Cộng h&ograve;a t&ocirc;n trọng quyết định ấy v&agrave; sẽ chỉ thị cho c&aacute;c cơ quan Nh&agrave; nước c&oacute; tr&aacute;ch nhiệm triệt để t&ocirc;n trọng hải phận 12 hải l&yacute; của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng ho&agrave; Nh&acirc;n d&acirc;n Trung Hoa tr&ecirc;n mặt biển. Ch&uacute;ng t&ocirc;i xin k&iacute;nh gửi Đồng ch&iacute; Tổng l&yacute; lời ch&agrave;o rất tr&acirc;n trọng&rdquo;.  
 Cần phải thấy rằng, c&aacute;c tuy&ecirc;n bố n&oacute;i tr&ecirc;n của Trung Quốc cũng như của VNDCCH ra đời trong bối cảnh c&oacute; nhiều chuyển biến phức tạp v&agrave; cấp b&aacute;ch đối với Trung Quốc về t&igrave;nh h&igrave;nh l&atilde;nh thổ tr&ecirc;n biển theo luật ph&aacute;p quốc tế cũng như diễn biến căng thẳng của vấn đề qu&acirc;n sự xung quanh eo biển Đ&agrave;i Loan. Năm 1956, Li&ecirc;n Hợp Quốc bắt đầu tiến h&agrave;nh c&aacute;c hội nghị quốc tế b&agrave;n về Luật Biển, sau đ&oacute; một số hiệp định được k&yacute; kết v&agrave;o năm 1958, tuy nhi&ecirc;n vẫn chưa l&agrave;m thỏa m&atilde;n y&ecirc;u s&aacute;ch về l&atilde;nh hải của một số quốc gia. Từ đầu thế kỷ XX, nhiều quốc gia đ&atilde; bắt đầu ch&uacute; &yacute; tới nguồn lợi to lớn từ kho&aacute;ng sản v&agrave; t&agrave;i nguy&ecirc;n biển, bộc lộ &yacute; đồ mở rộng chủ quyền tr&ecirc;n biển. Trung Quốc, d&ugrave; trong lịch sử &iacute;t quan t&acirc;m đến biển, cũng bắt đầu ch&uacute; &yacute; đến việc mở mang, kiếm t&igrave;m những đặc quyền tr&ecirc;n biển. Mặc d&ugrave; l&uacute;c đ&oacute; chưa phải l&agrave; th&agrave;nh vi&ecirc;n của Li&ecirc;n Hợp Quốc, nhưng Trung Quốc cũng bắt đầu ch&uacute; &yacute; đến việc l&ecirc;n tiếng với cộng đồng quốc tế nhằm giải quyết c&aacute;c vấn đề tr&ecirc;n biển theo hướng c&oacute; lợi cho Trung Quốc. Trong chiến lược cho tương lai, th&igrave; việc cạnh tranh tr&ecirc;n biển, cũng như t&igrave;m kiếm những nguồn t&agrave;i nguy&ecirc;n tr&ecirc;n biển l&agrave; một vấn đề được Trung Quốc đặt ra. Tr&ecirc;n thực tế, cũng từ đầu thế kỷ XX, Trung Quốc đ&atilde; h&igrave;nh th&agrave;nh &yacute; định nh&ograve;m ng&oacute; c&aacute;c quần đảo Ho&agrave;ng Sa v&agrave; Trường Sa của Việt Nam. R&otilde; r&agrave;ng, việc nh&ograve;m ng&oacute; c&aacute;c quần đảo Ho&agrave;ng Sa, Trường Sa của Việt Nam từ thế kỷ XX đ&atilde; nằm trong chiến lược "lấn s&acirc;n&rdquo; của Trung Quốc về tham vọng mở rộng bi&ecirc;n giới quốc gia tr&ecirc;n biển. 
 Ng&agrave;y 26-5-1950, chiến tranh Triều Ti&ecirc;n b&ugrave;ng nổ, Tổng thống Hoa Kỳ Harry S. Truman đ&atilde; ra lệnh cho Hạm đội 7 tiến v&agrave;o eo biển Đ&agrave;i Loan, ngăn chặn cuộc tấn c&ocirc;ng của Trung Quốc nhắm v&agrave;o c&aacute;c đảo tr&ecirc;n eo biển Đ&agrave;i Loan. Với h&agrave;nh động n&agrave;y, Mỹ đ&atilde; thực sự bảo hộ Đ&agrave;i Loan, mặc cho Trung Quốc kịch liệt l&ecirc;n &aacute;n. Để tỏ r&otilde; quyết t&acirc;m giải ph&oacute;ng Đ&agrave;i Loan, ng&agrave;y 3-9-1954, Trung Quốc đ&atilde; tấn c&ocirc;ng trừng phạt đối với c&aacute;c h&ograve;n đảo ven biển như Kim M&ocirc;n, M&atilde; Tổ. C&aacute;c nh&agrave; ch&eacute;p sử gọi đ&acirc;y l&agrave; cuộc khủng hoảng eo biển Đ&agrave;i Loan lần thứ nhất. Ng&agrave;y 11-8-1954, Thủ tướng Trung Quốc Chu &Acirc;n Lai tuy&ecirc;n bố sẽ "giải ph&oacute;ng&rdquo; Đ&agrave;i Loan, v&agrave; tăng cường ph&aacute;o k&iacute;ch v&agrave;o hai đảo Kim M&ocirc;n v&agrave; M&atilde; Tổ. Ng&agrave;y 12-9-1954, Chủ tịch Hội đồng Li&ecirc;n qu&acirc;n Hoa Kỳ đưa ra dự t&iacute;nh tấn c&ocirc;ng Trung Quốc bằng vũ kh&iacute; nguy&ecirc;n tử nhưng Tổng thống Eisenhower đ&atilde; do dự sử dụng vũ kh&iacute; nguy&ecirc;n tử cũng như sự li&ecirc;n can của qu&acirc;n đội Hoa Kỳ v&agrave;o cuộc chiến n&agrave;y. Năm 1958, tiếp tục xảy ra cuộc khủng hoảng eo biển Đ&agrave;i Loan lần thứ hai. Ng&agrave;y 23-8-1958 Trung Quốc đột ngột tăng cường n&atilde; ph&aacute;o v&agrave;o đảo Kim M&ocirc;n. Theo Hiệp định Ph&ograve;ng thủ tương hỗ giữa Đ&agrave;i Loan-Hoa Kỳ, Tổng thống Eisenhower đ&atilde; ra lệnh cho t&agrave;u chiến Hoa Kỳ đến bảo vệ đường tiếp tế hậu cần từ đảo Đ&agrave;i Loan đến 2 đảo tiền ti&ecirc;u Kim M&ocirc;n v&agrave; M&atilde; Tổ. 
 Ngo&agrave;i bối cảnh "phức tạp v&agrave; cấp b&aacute;ch&rdquo; đối với Trung Quốc như đ&atilde; n&ecirc;u tr&ecirc;n, theo Thạc sĩ Ho&agrave;ng Việt (Quỹ Nghi&ecirc;n cứu Biển Đ&ocirc;ng), C&ocirc;ng h&agrave;m 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng ra đời trong bối cảnh quan hệ đặc th&ugrave; VNDCCH &ndash;Trung Quốc l&uacute;c đ&oacute; "vừa l&agrave; đồng ch&iacute; vừa l&agrave; anh em&rdquo;. Năm 1949, bộ đội Việt Nam c&ograve;n tấn c&ocirc;ng v&agrave; chiếm v&ugrave;ng Tr&uacute;c Sơn thuộc l&atilde;nh thổ Trung Quốc từ tay c&aacute;c lực lượng kh&aacute;c rồi trao trả lại cho Qu&acirc;n giải ph&oacute;ng Trung Quốc. Năm 1957, Trung Quốc chiếm giữ đảo Bạch Long Vĩ của Việt Nam từ tay một số lực lượng kh&aacute;c, rồi sau đ&oacute; cũng trao trả cho Việt Nam. Điều n&agrave;y cho thấy quan hệ đặc th&ugrave; của hai nước VNDCCH &ndash; Trung Quốc l&uacute;c bấy giờ. Do vậy, trong t&igrave;nh h&igrave;nh l&atilde;nh thổ Trung Quốc đang bị đe dọa chia cắt, cuộc khủng hoảng eo biển Đ&agrave;i Loan lần thứ hai khiến Hải qu&acirc;n Hoa Kỳ đưa t&agrave;u chiến v&agrave;o can thiệp, việc Trung Quốc ra tuy&ecirc;n bố về l&atilde;nh hải bao gồm đảo Đ&agrave;i Loan trước hết nhằm khẳng định chủ quyền tr&ecirc;n biển của Trung Quốc trong t&igrave;nh thế bị đe dọa tại eo biển Đ&agrave;i Loan. Tuy nhi&ecirc;n, Trung Quốc vẫn kh&ocirc;ng qu&ecirc;n mục đ&iacute;ch "s&acirc;u xa&rdquo; của họ tr&ecirc;n Biển Đ&ocirc;ng n&ecirc;n đ&atilde; "lồng gh&eacute;p&rdquo; th&ecirc;m hai quần đảo Ho&agrave;ng Sa v&agrave; Trường Sa của Việt Nam v&agrave;o bản tuy&ecirc;n bố. C&ocirc;ng h&agrave;m 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng xuất ph&aacute;t từ mối quan hệ rất đặc th&ugrave; với Trung Quốc trong thời điểm VNDCCH đang rất cần tranh thủ sự ủng hộ v&agrave; gi&uacute;p đỡ của c&aacute;c quốc gia trong khối x&atilde; hội chủ nghĩa bấy giờ v&agrave; l&agrave; một cử chỉ ngoại giao tốt đẹp thể hiện quan điểm ủng hộ của VNDCCH trong việc t&ocirc;n trọng l&atilde;nh hải 12 hải l&yacute; của Trung Quốc trước c&aacute;c diễn biến qu&acirc;n sự phức tạp tr&ecirc;n eo biển Đ&agrave;i Loan. Thủ tướng Phạm Văn Đồng đ&atilde; ph&aacute;t biểu những lời ủng hộ Trung Quốc trong ho&agrave;n cảnh hết sức khẩn trương, chiến tranh chuẩn bị leo thang, Hạm đội 7 của Mỹ đang tiến v&agrave;o eo biển Đ&agrave;i Loan v&agrave; đe dọa Trung Quốc. 
 Nội dung C&ocirc;ng h&agrave;m 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng được thể hiện rất thận trọng, đặc biệt l&agrave; kh&ocirc;ng hề c&oacute; việc tuy&ecirc;n bố từ bỏ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Ho&agrave;ng Sa v&agrave; Trường Sa. Bởi, hơn ai hết, ch&iacute;nh Thủ tướng VNDCCH thấu hiểu quyền tuy&ecirc;n bố về l&atilde;nh thổ quốc gia thuộc thẩm quyền cơ quan quyền lực nh&agrave; nước cao nhất l&agrave; Quốc hội, v&agrave; việc bảo vệ t&ograve;an vẹn l&atilde;nh thổ quốc gia lu&ocirc;n lu&ocirc;n l&agrave; mục ti&ecirc;u h&agrave;ng đầu đối với Nh&agrave; nước v&agrave; nh&acirc;n d&acirc;n Việt Nam, nhất l&agrave; trong ho&agrave;n cảnh ra đời của C&ocirc;ng h&agrave;m như đ&atilde; n&ecirc;u tr&ecirc;n. C&ocirc;ng h&agrave;m 1958 c&oacute; hai nội dung rất r&otilde; r&agrave;ng: Một l&agrave;, Ch&iacute;nh phủ VNDCCH ghi nhận v&agrave; t&aacute;n th&agrave;nh việc Trung Quốc mở rộng l&atilde;nh hải ra 12 hải l&yacute;; Hai l&agrave;, Ch&iacute;nh phủ VNDCCH chỉ thị cho c&aacute;c cơ quan nh&agrave; nước t&ocirc;n trọng giới hạn l&atilde;nh hải 12 hải l&yacute; m&agrave; Trung Quốc tuy&ecirc;n bố. Trong C&ocirc;ng h&agrave;m của Thủ tướng Phạm Văn Đồng kh&ocirc;ng c&oacute; từ n&agrave;o, c&acirc;u n&agrave;o đề cập đến vấn đề l&atilde;nh thổ v&agrave; chủ quyền, c&agrave;ng kh&ocirc;ng n&ecirc;u t&ecirc;n bất kỳ quần đảo n&agrave;o như Trung Quốc đ&atilde; n&ecirc;u. Do vậy, chỉ x&eacute;t về c&acirc;u chữ trong một văn bản c&oacute; t&iacute;nh chất ngoại giao cũng dễ d&agrave;ng nhận thấy mọi suy diễn cho rằng C&ocirc;ng h&agrave;m 1958 đ&atilde; tuy&ecirc;n bố từ bỏ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Ho&agrave;ng Sa v&agrave; Trường Sa v&agrave; coi đ&oacute; l&agrave; bằng chứng khẳng định Việt Nam đ&atilde; thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo n&agrave;y l&agrave; xuy&ecirc;n tạc lịch sử v&agrave; ho&agrave;n to&agrave;n kh&ocirc;ng c&oacute; cơ sở ph&aacute;p l&yacute;. 
 Tại Hội nghị San Francisco 1951, c&aacute;c quốc gia tham dự đ&atilde; b&aacute;c bỏ y&ecirc;u s&aacute;ch về chủ quyền của Trung Quốc tr&ecirc;n hai quần đảo Ho&agrave;ng Sa v&agrave; Trường Sa. Cũng tại hội nghị n&agrave;y, Việt Nam đ&atilde; long trọng tuy&ecirc;n bố chủ quyền l&acirc;u đời v&agrave; li&ecirc;n tục của m&igrave;nh tr&ecirc;n hai quần đảo Ho&agrave;ng Sa v&agrave; Trường Sa trong phi&ecirc;n họp to&agrave;n thể m&agrave; kh&ocirc;ng c&oacute; bất kỳ sự phản đối hay &yacute; kiến g&igrave; kh&aacute;c của tất cả c&aacute;c quốc gia tham dự. Điều đ&oacute; c&oacute; nghĩa l&agrave; kể từ năm 1951, cộng động quốc tế đ&atilde; thừa nhận chủ quyền lịch sử v&agrave; ph&aacute;p l&yacute; của Việt Nam tại hai quần đảo Ho&agrave;ng Sa v&agrave; Trường Sa. Những tuy&ecirc;n bố đơn phương về chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo n&agrave;y theo luật ph&aacute;p quốc tế l&agrave; v&ocirc; hiệu. Hiệp định Gen&egrave;ve 1954, m&agrave; Trung Quốc l&agrave; một nước tham gia ch&iacute;nh thức, cũng thừa nhận chủ quyền hai quần đảo Ho&agrave;ng Sa v&agrave; Trường Sa thuộc về người Việt Nam. C&aacute;c điều khoản trong Hiệp định cũng y&ecirc;u cầu c&aacute;c quốc gia tham dự Hội nghị cam kết t&ocirc;n trọng chủ quyền độc lập, nền thống nhất quốc gia v&agrave; sự to&agrave;n vẹn l&atilde;nh thổ của Việt Nam. Do vậy, phần tuy&ecirc;n bố về chủ quyền của Trung Quốc li&ecirc;n quan tới hai quần đảo Ho&agrave;ng Sa v&agrave; Trường Sa của Việt Nam trong bản tuy&ecirc;n bố ng&agrave;y 4-9-1958 về cơ sở ph&aacute;p l&yacute; quốc tế đương nhi&ecirc;n được xem l&agrave; kh&ocirc;ng c&oacute; hiệu lực. Trong C&ocirc;ng h&agrave;m 1958, Thủ tướng Phạm Văn Đồng kh&ocirc;ng hề đề cập đến hai quần đảo Ho&agrave;ng Sa v&agrave; Trường Sa. V&igrave; điều đ&oacute; l&agrave; kh&ocirc;ng cần thiết, bởi theo Hiệp định Gen&egrave;ve 1954, hai quần đảo Ho&agrave;ng Sa v&agrave; Trường Sa nằm ph&iacute;a Nam vĩ tuyến 17 tạm thời thuộc quyền quản l&yacute; của Ch&iacute;nh phủ Việt Nam Cộng H&ograve;a (VNCH). Trong thời điểm đ&oacute;, dưới g&oacute;c độ t&agrave;i ph&aacute;n quốc tế, th&igrave; Ch&iacute;nh phủ VNDCCH kh&ocirc;ng c&oacute; nghĩa vụ v&agrave; quyền hạn h&agrave;nh xử chủ quyền tại hai quần đảo n&agrave;y theo luật ph&aacute;p quốc tế. C&ocirc;ng h&agrave;m 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đương nhi&ecirc;n chỉ t&aacute;n th&agrave;nh những tuy&ecirc;n bố của Trung Quốc c&oacute; nội dung hợp ph&aacute;p được cộng đồng quốc tế thừa nhận tr&ecirc;n cơ sở luật ph&aacute;p quốc tế cho đến giai đoạn đ&oacute;. Một phần nội dung của bản tuy&ecirc;n bố ng&agrave;y 4-9-1958 của Trung Quốc đ&atilde; vi phạm nghi&ecirc;m trọng chủ quyền quốc gia về l&atilde;nh thổ của Việt Nam, đồng thời cũng vi phạm nghi&ecirc;m trọng c&aacute;c cơ sở ph&aacute;p l&yacute; về chủ quyền tr&ecirc;n hai quần đảo Ho&agrave;ng Sa v&agrave; Trường Sa m&agrave; cộng đồng quốc tế đ&atilde; thừa nhận cũng như đ&atilde; nhiều lần t&aacute;i thừa nhận một c&aacute;ch minh thị l&agrave; thuộc chủ quyền của Việt Nam. Ch&iacute;nh phủ VNDCCH trong bối cảnh quan hệ hữu nghị rất đặc th&ugrave; với Trung Quốc đ&atilde; khẳng định lập trường ghi nhận, t&aacute;n th&agrave;nh tuy&ecirc;n bố giới hạn 12 hải l&yacute; về l&atilde;nh hải của Trung Quốc, c&ograve;n những nội dung cụ thể diễn giải vượt qu&aacute; phạm vi chủ quyền l&atilde;nh thổ của Trung Quốc theo c&aacute;c hiệp ước quốc tế đ&atilde; kh&ocirc;ng được đề cập tới như l&agrave; một sự mặc nhi&ecirc;n thừa nhận sự v&ocirc; hiệu của n&oacute; dưới &aacute;nh s&aacute;ng của ph&aacute;p luật quốc tế. Trong khi đ&oacute;, Ch&iacute;nh quyền VNCH, theo Hiệp định Gen&egrave;ve 1954, đ&atilde; li&ecirc;n tục thực thi chủ quyền l&acirc;u đời của người Việt Nam tr&ecirc;n hai quần đảo Ho&agrave;ng Sa v&agrave; Trường Sa bằng c&aacute;c văn bản h&agrave;nh ch&iacute;nh nh&agrave; nước cũng như bằng việc triển khai thực thi chủ quyền thực tế tr&ecirc;n hai quần đảo n&agrave;y. Đỉnh cao của sự khẳng định chủ quyền Việt Nam tr&ecirc;n hai quần đảo Ho&agrave;ng Sa v&agrave; Trường Sa trong giai đoạn n&agrave;y l&agrave; trận hải chiến quyết liệt của Hải qu&acirc;n VNCH chống lại sự x&acirc;m lược của t&agrave;u chiến v&agrave; m&aacute;y bay Trung Quốc tại quần đảo Ho&agrave;ng Sa năm 1974. 
   
  Bức C&ocirc;ng h&agrave;m ng&agrave;y 14-9-1958 của   
  Ch&iacute;nh phủ nước Việt Nam D&acirc;n Chủ Cộng h&ograve;a  
   do Thủ tướng Phạm Văn Đồng k&yacute;  
 Trong bối cảnh lịch sử đặc biệt n&ecirc;u tr&ecirc;n c&agrave;ng thấy r&otilde; một sự thật hiển nhi&ecirc;n l&agrave; C&ocirc;ng h&agrave;m ng&agrave;y 14-9-1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đơn giản chỉ ghi nhận l&atilde;nh hải 12 hải l&yacute; của Trung Quốc, kh&ocirc;ng hề nhắc lại c&aacute;c nội dung mập mờ li&ecirc;n quan đến c&aacute;c quần đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam. Về thực chất, C&ocirc;ng h&agrave;m 1958 thể hiện một th&aacute;i độ ch&iacute;nh trị, một cử chỉ hữu nghị với tuy&ecirc;n bố giới hạn l&atilde;nh hải 12 hải l&yacute; của Trung Quốc. Thực l&agrave; phi l&yacute;, nếu cố t&igrave;nh suy diễn v&agrave; xuy&ecirc;n tạc (như lập luận ph&iacute;a Trung Quốc), cho rằng Thủ tướng Phạm Văn Đồng, người con ưu t&uacute; của d&acirc;n tộc, lại k&yacute; văn bản từ bỏ l&atilde;nh thổ v&agrave; chủ quyền của đất nước trong khi ch&iacute;nh &ocirc;ng v&agrave; cả d&acirc;n tộc Việt Nam đ&atilde; chiến đấu hết m&igrave;nh để gi&agrave;nh độc lập, tự do. C&oacute; lẽ cần phải nhấn mạnh rằng tất cả những h&agrave;nh động ngoại giao của Thủ tướng Phạm Văn Đồng trong C&ocirc;ng h&agrave;m 1958 c&oacute; thể hiểu kh&ocirc;ng phải l&agrave; &ocirc;ng kh&ocirc;ng nh&igrave;n thấy mọi &yacute; đồ của Trung Quốc đối với c&aacute;ch mạng Việt Nam v&igrave; &ocirc;ng đ&atilde; c&oacute; kinh nghiệm trong b&agrave;n đ&agrave;m ph&aacute;n Gen&egrave;ve năm 1954, khi m&agrave; Trung Quốc đ&atilde; c&oacute; kh&ocirc;ng &iacute;t động th&aacute;i rất bất lợi cho VNDCCH. Nội dung C&ocirc;ng h&agrave;m ng&agrave;y 14-9-1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng ph&ugrave; hợp với ho&agrave;n cảnh v&agrave; mối quan hệ đặc th&ugrave; giữa VNDCCH v&agrave; Trung Quốc bấy giờ, đồng thời cũng h&agrave;m chứa th&aacute;i độ kh&ocirc;ng bao giờ từ bỏ chủ quyền của người Việt Nam tr&ecirc;n hai quần đảo Ho&agrave;ng Sa v&agrave; Trường Sa. Đ&oacute; cũng l&agrave; quan điểm nhất qu&aacute;n của Việt Nam, bởi từ năm 1945 đến nay, Quốc hội nước Việt Nam D&acirc;n chủ Cộng h&ograve;a, Quốc hội Việt Nam Cộng h&ograve;a, Mặt trận DTGPMN Việt Nam v&agrave; sau đ&oacute; l&agrave; Ch&iacute;nh phủ C&aacute;ch mạng l&acirc;m thời Cộng h&ograve;a miền Nam Việt Nam v&agrave; hiện nay l&agrave; Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam chưa bao giờ l&ecirc;n tiếng hoặc ra nghị quyết từ bỏ chủ quyền của Việt Nam tr&ecirc;n hai quần đảo Ho&agrave;ng Sa v&agrave; Trường Sa. 
 Một cơ sở nữa tr&ecirc;n phương diện ph&aacute;p l&yacute;, nước VNDCCH l&uacute;c đ&oacute; kh&ocirc;ng trực tiếp quản l&yacute; đối với hai quần đảo Ho&agrave;ng Sa v&agrave; Trường Sa. Trước năm 1975, c&aacute;c quốc gia v&agrave; l&atilde;nh thổ tranh chấp gồm: Trung Quốc, Đ&agrave;i Loan, Việt Nam Cộng h&ograve;a v&agrave; Philippines. Như vậy, những lời tuy&ecirc;n bố của VNDCCH xem như lời tuy&ecirc;n bố của một quốc gia thứ ba kh&ocirc;ng c&oacute; ảnh hưởng đến vụ tranh chấp. Tuy nhi&ecirc;n, c&oacute; t&aacute;c giả đ&atilde; cố t&igrave;nh n&ecirc;u thuyết "estoppel&rdquo; để suy diễn những lời tuy&ecirc;n bố đ&oacute; c&oacute; hiệu lực b&oacute; buộc đối với Việt Nam. 
 Theo luật quốc tế, kh&ocirc;ng c&oacute; một văn bản ph&aacute;p l&yacute; n&agrave;o c&oacute; thể gắn cho những lời tuy&ecirc;n bố đơn phương một t&iacute;nh chất b&oacute; buộc, ngoại trừ thuyết "estoppel&rdquo;. Mục đ&iacute;ch ch&iacute;nh của n&oacute; ngăn chặn trường hợp một quốc gia c&oacute; thể hưởng lợi v&igrave; những th&aacute;i độ bất nhất của m&igrave;nh, v&agrave; do đ&oacute;, g&acirc;y thiệt hại cho quốc gia kh&aacute;c. V&igrave; vậy, estoppel phải hội đủ c&aacute;c điều kiện ch&iacute;nh: (1) Lời tuy&ecirc;n bố hoặc h&agrave;nh động phải do một người hoặc cơ quan đại diện cho quốc gia ph&aacute;t biểu v&agrave; phải được ph&aacute;t biểu một c&aacute;ch minh bạch; (2) Quốc gia nại "estoppel&rdquo; phải chứng minh rằng m&igrave;nh đ&atilde; dựa tr&ecirc;n những lời tuy&ecirc;n bố hoặc hoạt động của quốc gia kia, m&agrave; c&oacute; những hoạt động n&agrave;o đ&oacute;, hoặc kh&ocirc;ng hoạt động; (3) Quốc gia nại "estoppel&rdquo; cũng phải chứng minh rằng, v&igrave; dựa v&agrave;o lời tuy&ecirc;n bố của quốc gia kia, m&igrave;nh đ&atilde; bị thiệt hại, hoặc quốc gia kia đ&atilde; hưởng lợi khi ph&aacute;t biểu lời tuy&ecirc;n bố đ&oacute;; (4) Nhiều bản &aacute;n c&ograve;n đ&ograve;i hỏi lời tuy&ecirc;n bố hoặc hoạt động phải được ph&aacute;t biểu một c&aacute;ch li&ecirc;n tục v&agrave; l&acirc;u d&agrave;i. Th&iacute; dụ: bản &aacute;n "Ph&acirc;n định biển trong v&ugrave;ng Vịnh Maine&rdquo;, bản &aacute;n "Những hoạt động qu&acirc;n sự v&agrave; b&aacute;n qu&acirc;n sự tại Nicaragua&rdquo;, bản &aacute;n "Ng&ocirc;i đền Preah Vihear&rdquo;... 
 &Aacute;p dụng những nguy&ecirc;n tắc tr&ecirc;n của estoppel v&agrave;o những lời tuy&ecirc;n bố của VNDCCH, ch&uacute;ng ta thấy thiếu điều kiện 2 v&agrave; 3 đ&atilde; n&ecirc;u ở tr&ecirc;n. Năm 1956, năm 1958 v&agrave; năm 1965, Trung Quốc đ&atilde; kh&ocirc;ng c&oacute; th&aacute;i độ n&agrave;o, hoặc thay đổi th&aacute;i độ v&igrave; dựa v&agrave;o lời tuy&ecirc;n bố của VNDCCH. Trung Quốc cũng kh&ocirc;ng thể chứng minh được rằng m&igrave;nh bị thiệt hại g&igrave; do dựa v&agrave;o những lời tuy&ecirc;n bố đ&oacute;. VNDCCH cũng kh&ocirc;ng được hưởng lợi g&igrave; khi c&oacute; những lời tuy&ecirc;n bố đ&oacute;. 
 Trong suốt qu&aacute; tr&igrave;nh thực hiện mưu đồ b&aacute; chủ tr&ecirc;n Biển Đ&ocirc;ng, Trung Quốc đ&atilde; kh&ocirc;ng &iacute;t lần đưa ra c&aacute;c t&agrave;i liệu xuy&ecirc;n tạc lịch sử, biến c&oacute; th&agrave;nh kh&ocirc;ng, biến kh&ocirc;ng th&agrave;nh c&oacute;, tung hỏa m&ugrave; để cố t&igrave;nh l&agrave;m sai lệch nhận thức của ch&iacute;nh nh&acirc;n d&acirc;n Trung Quốc cũng như của cộng đồng quốc tế về vấn đề n&agrave;y theo hướng c&oacute; lợi cho mưu đồ của Trung Quốc. Tuy nhi&ecirc;n, trước những bằng chứng hiển nhi&ecirc;n của sự thật lịch sử v&agrave; dưới &aacute;nh s&aacute;ng của luật ph&aacute;p quốc tế những h&agrave;nh vi xuy&ecirc;n tạc, tung hỏa m&ugrave;, cố t&igrave;nh l&agrave;m cho cộng đồng quốc tế ngộ nhận c&agrave;ng khiến cho Trung Quốc lộ r&otilde; &acirc;m mưu cũng như thủ đoạn của họ trong suốt qu&aacute; tr&igrave;nh &aacute;p đặt &yacute; đồ "nuốt trọn&rdquo; Biển Đ&ocirc;ng, theo kiểu "miệng n&oacute;i h&ograve;a b&igrave;nh kh&ocirc;ng xưng b&aacute;, tay l&agrave;m phức tạp ho&aacute; t&igrave;nh h&igrave;nh&rdquo;. 
  Nh&oacute;m PV Biển Đ&ocirc;ng  
  [ Kỳ 25:  Ch&acirc;u bản thời vua Bảo Đại khắc ghi   
  chủ quyền Ho&agrave;ng Sa của Việt Nam]  
  [ Kỳ 24:  Ch&acirc;u bản thời Minh Mạng v&agrave; Thiệu Trị khắc ghi   
  chủ quyền Ho&agrave;ng Sa v&agrave; Trường Sa của Việt Nam]  
  [ Kỳ 23:  "Đường lưỡi b&ograve;&rdquo; phi l&yacute; v&agrave; tham vọng b&aacute; chủ  
  của Trung Quốc ở Biển Đ&ocirc;ng]  
  [ Kỳ 22:  Trung Quốc chưa bao giờ c&oacute; chủ quyền  
  ở Ho&agrave;ng Sa v&agrave; Trường Sa]  
  [ Kỳ 21:  Cơ sở ph&aacute;p l&yacute; khẳng định chủ quyền        Ho&agrave;ng Sa v&agrave; Trường Sa của Việt Nam]  
  [ Kỳ 20:  Cơ sở ph&aacute;p l&yacute; quốc tế về sự thiết lập       chủ quyền l&atilde;nh thổ tại c&aacute;c hải đảo]  
  [ Kỳ 19:  Cờ Tổ quốc vẫn tung bay tr&ecirc;n ngư trường Ho&agrave;ng Sa]  
  [ Kỳ 18:  "Sinh Tồn&rdquo; tr&ecirc;n đại dương gi&oacute; b&atilde;o]  
  [ Kỳ 17:  C&ocirc; Lin - "Mắt thần&rdquo; của biển]  
  [ Kỳ 16:  Trận chiến bảo vệ chủ quyền Trường Sa năm1988]  
  [ Kỳ 15:  Chủ quyền Ho&agrave;ng Sa v&agrave; Trường Sa của Việt Nam       giai đoạn sau 1991]  
  [ Kỳ 14:  Chủ quyền Ho&agrave;ng Sa v&agrave; Trường Sa của Việt Nam        giai đoạn 1975 - 1991]  
  [ Kỳ 13:  K&yacute; ức Ho&agrave;ng Sa trong nhiều thế hệ người Việt Nam]  
  [ Kỳ 12:  Trận hải chiến bảo vệ chủ quyền Ho&agrave;ng Sa        của Việt Nam năm 1974]  
  [ Kỳ 11:  Chủ quyền Ho&agrave;ng Sa v&agrave; Trường Sa của Việt Nam        giai đoạn 1954-1975]  
  [ Kỳ10:  Chủ quyền Ho&agrave;ng Sa v&agrave; Trường Sa của Việt Nam       giai đoạn 1945 -1954]  
  [ Kỳ 9:  Chủ quyền Ho&agrave;ng Sa v&agrave; Trường Sa của Việt Nam       thời Ph&aacute;p thuộc]  
  [ Kỳ 8:  Ho&agrave;ng Sa v&agrave; Trường Sa trong thư tịch cổ Trung Hoa]  
  [ Kỳ 7:  Ho&agrave;ng Sa-Trường Sa: Tư liệu cổ phươngT&acirc;y]  
  [ Kỳ 6:  Hải đội Ho&agrave;ng Sa thực thi chủ quyền]  
  [ Kỳ 5:  Thực thi chủ quyền ở Ho&agrave;ng Sa v&agrave; Trường Sa        của c&aacute;c triều đại Việt Nam ]  
  [ Kỳ 4:  Chủ quyền Ho&agrave;ng Sa v&agrave; Trường Sa của Việt Nam        trong thư tịch triều Nguyễn ]  
  [ Kỳ 3:  Chủ quyền biển đảo của Việt Nam từ c&aacute;c bản đồ       trong lịch sử]  
  [ Kỳ 2:  Chủ quyền của Việt Nam ở Ho&agrave;ng Sa v&agrave; Trường Sa       từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII]  
  [ Kỳ 1:  V&agrave;i n&eacute;t địa l&yacute; tự nhi&ecirc;n thuộc v&ugrave;ng biển Việt Nam ]   </description>
   <link>http://dean165.vnweblogs.com/post/14795/311742</link>
      <pubDate>Wed, 20 Jul 2011 10:34:33 +0700</pubDate>   
  </item>
    <item>
   <title>Th&amp;aacute;ch thức Biển Đ&amp;ocirc;ng v&amp;agrave; &amp;quot;chiếc nỏ thần&amp;quot; Việt Nam</title>
   <description>      Dân tộc Việt Nam có một vũ khí chiến lược vô song chỉ được dùng đến khi không còn phương cách nào khác. Vũ khí đó có khả năng làm kinh ngạc đối phương và thế giới bằng những nỗ lực phi thường mà trước đó không ai có thể hình dung được.    Dân tộc Việt Nam có một vũ khí chiến lược vô song chỉ được dùng đến khi không còn phương cách nào khác. Vũ khí đó có khả năng làm kinh ngạc đối phương và thế giới bằng những nỗ lực phi thường mà trước đó không ai có thể hình dung được.    Những biến động dồn dập gần đây ở Biển Đông với hành động phi đạo lý của Trung Quốc trong xâm phạm chủ quyền của Việt Nam chỉ là phần nổi của một tảng băng chìm khổng lồ chứa đựng không chỉ tham vọng vô đáy của Trung Quốc trong vùng biển xung yếu này mà cả sự đánh giá rất thấp (nếu không nói là coi thường) khả năng ứng xử chiến lược của nhà nước và sức trỗi dậy của dân tộc Việt Nam.  Đây là một nước cờ sâu và táo bạo. Có lẽ những người đi nước cờ này đã trù tính kỹ tới ba phản ứng sau đây của Việt Nam.     Thứ nhất,  Việt Nam sẽ không tiếc tiền, vội vã mua sắm vũ khí, tăng cường phòng thủ. Điều này sẽ làm ngân sách quốc gia kiệt quệ, kinh tế vĩ mô chao đảo, kinh tế suy yếu.      Thứ hai,  người dân Việt Nam sẽ rất bức xúc trong khi nhà nước bối rối lo ngại nên tăng cường kiểm soát và kìm chế. Kết quả là, người Việt Nam sẽ mất đi tính sáng suốt của sự đồng lòng; và do đó không còn tâm trí nào cho một nỗ lực cải cách sâu rộng.      Thứ ba,  giới doanh nhân Việt Nam sẽ mất đi quyết tâm và nhuệ khí&#160; trong thâm nhập thị trường Trung Quốc, một yếu tố quan trọng không thể thiếu trong chiến lược phát triển. Vì thế, Việt Nam sẽ tiếp tục là nước thua thiệt và yếu kém nhất trong các nước châu Á trong quan hệ thương mại với thị trường khổng lồ và tăng trưởng nhanh chóng này.     Thế nhưng, những người chơi nước cờ sâu và táo bạo nói trên có thể không lường hết sức trỗi dậy của dân tộc Việt Nam. Dân tộc này có một vũ khí chiến lược vô song chỉ được dùng đến khi không còn phương cách nào khác. Vũ khí đó có khả năng làm kinh ngạc đối phương và thế giới bằng những nỗ lực phi thường mà trước đó không ai có thể hình dung được. Thách thức Biển Đông có lẽ là một vận hội vô giá, nó buộc người Việt Nam chúng ta phải dùng đến chiếc &quot;nỏ thần&quot; kỳ diệu này.      Chúng ta cần hiểu Trung Quốc hơn      Để vượt qua thách thức nghiệt ngã hiện nay, Việt Nam cần hiểu rõ hơn Trung Quốc. Đây là một dân tộc có nền văn hóa lớn, lâu đời, với nhiều thành quả huy hoàng trong quá khứ nhưng đã bị kìm nén nặng nề trong hàng trăm năm qua do chính sách đóng cửa và não trạng mê muội. Từ khi có cải cách do ông Đặng Tiểu Bình khởi xướng họ đã đi được những bước khổng lồ, làm thế giới thán phục, với động lực chủ đạo là ý chí và tham vọng rất lớn, trọng dụng nhân tài, tầm nhìn rộng, và mưu kế sâu sắc. Xu thế này hiện còn rất mạnh mẽ và có thể còn kéo dài.     Việt Nam cũng như nhiều nước khác cần thấu hiểu cục diện này và chuẩn bị thật tốt để có thể sống bên một người láng giềng khổng lồ, hùng mạnh, tham vọng, mưu sâu, và có thể có những hành vi nhẫn tâm trong khẳng định quyền thế nhờ sự trỗi dậy của mình.     Đồng thời, Việt Nam cũng cần biết rõ những điểm yếu rất dễ tổn thương của Trung Quốc.       Thứ nhất,  đó là nội tình phức tạp với nhiều yếu tố bất ổn từ trong cốt lõi. Mức độ ổn định chính trị và kiểm soát tham nhũng của Trung Quốc rất thấp so với hầu hết các nước (theo khảo sát thường niên của Ngân hàng Thế giới). Trung quốc sẽ không thể rảnh tay làm mưa gió trên thế giới nếu người dân Trung Quốc thấy chính phủ mình thua kém Việt Nam và các nước láng giềng trong nỗ lực cải cách-phát triển. Khi đó Trung Quốc sẽ phải quay về giải quyết vấn đề nội bộ.      Thứ hai,  hình ảnh nhân văn của Trung Quốc trên trường quốc tế còn rất thấp. Từ thực tế châu Phi đến Biển Đông, họ chưa chứng tỏ được mình là một quốc gia có trách nhiệm cao trong&#160; kiến tạo hòa bình và phồn vinh cho thế giới.      Thứ ba,  Trung Quốc để lại nhiều ấn tượng chưa đẹp về tính trung thực và sự nhất quán giữa hành động và lời nói, từ chất lượng sản phẩm đến đường lối kinh tế và chính sách ngoại giao.     Một mặt khác, Trung Quốc là một quốc gia có lãnh đạo giỏi, tầm nhìn xa. Trên thực tế, họ rất ngại và kiêng nể các quốc gia có hội đủ ba yếu tố: thượng tôn các qui luật của tạo hóa, trọng dụng nhân tài, và dốc sức khai phát sức mạnh dân tộc. Bởi họ biết dân tộc này sẽ là một quốc gia hùng cường. Hàn Quốc là một trường hợp điển hình. Trong khi đó, họ có thể hành xử rất ngạo mạn với những quốc gia mê muội, giáo điều, hắt hủi hiền tài, phân liệt nhân tâm. Bởi họ biết đất nước này đang ở vào thế suy vi.     Trung Quốc đã qua giai đoạn trỗi dậy hòa bình và bước vào giai đoạn khẳng định uy lực của mình. Họ sẽ không ngại đối đầu trên những điểm mạnh của họ, đặc biệt là về thực lực kinh tế và quân sự. Tuy nhiên họ sẽ phải chùn lại nếu sự đụng độ khoét sâu các điểm yếu nêu trên: ổn định chính trị thấp, hình ảnh nhân văn hạn chế, ấn tượng về hành xử thiếu văn minh và trách nhiệm.      Việt Nam: Chiếc &quot;nỏ thần&quot; và phương cách sử dụng        Từ bài học từ cha ông       Binh pháp cổ có tổng kết rằng, muốn làm nên một chiến thắng hiển hách, cần có khả năng làm kinh ngạc đối phương. Đây là chiếc &quot;nỏ thần&quot; kỳ diệu mà người Việt Nam qua bao thế hệ đã dùng đến mỗi khi đất nước bị lâm nguy hoặc ngoại xâm giày xéo. Ông cha ta đã để lại những bài học quí giá khi dùng đến vũ khí chiến lược này.     Bài học của Đức Trần Hưng Đạo chỉ ra rằng cách bảo vệ tổ quốc tốt nhất là chủ động tiến công vào những yếu kém của chính mình. Theo tư tưởng này, ngài thảo ra hịch tướng sĩ, khích lệ tướng sĩ thấy nỗi nhục quốc gia mà bỏ thói hư tật xấu, quyết chí một lòng, xả thân vì nước.     Ngài chỉ rõ, nếu để mất nước thì: &quot;chẳng những thân ta kiếp này chịu nhục đến ngàn năm sau tiếng nhơ khôn rửa, tên xấu còn lưu, mà gia thanh các ngươi cũng không khỏi mang danh là tướng bại trận.&quot;     Và nếu giữ được nước thì: &quot;trăm đời sau còn để tiếng thơm; chẳng những thụy hiệu ta không hề mai một, mà tên họ các ngươi cũng sử sách lưu truyền.&quot;     Nguyễn Trãi nêu ra những nguyên lý cao cả để dân tộc vượt lên mọi sự bạo ngược:    &quot;Lấy đại nghĩa để thắng hung tàn    Lấy chí nhân để thay cường bạo&quot;    (Bình Ngô Đại cáo)         Hoàng đế Quang Trung Nguyễn Huệ trăn trở tìm kiếm người hiền tài ra giúp nước: &quot;Trẫm đang ghé chiếu lắng nghe, thức ngủ mong mỏi mà có người tài cao học rộng chưa từng thấy đến... Ngẫm cho kỹ: cái nhà to lớn - sức một cây không dễ gì chống đỡ, sự nghiệp thái bình - sức một người không thể đảm đương.&quot; (Chiếu cầu hiền)      Đến nỗ lực hôm nay               Sẽ cần những nghiên cứu sâu sắc và thảo luận rộng khắp trong nhân dân để tìm ra đủ phương cách để Việt Nam có thể vượt lên bằng những nỗ lực làm kinh ngạc thế giới, buộc đối phương phải rút về thế phòng thủ - hòa hoãn. Ba hướng đi lớn cho các nỗ lực có thể là:     1- Xác lập ý chí cải cách của lãnh đạo Đảng và Nhà nước;     2- Cả nước trên dưới một lòng toàn tâm toàn ý khai phát sức mạnh tiềm tàng của dân tộc; và     3- Toàn xã hội thành tâm coi giá trị nhân văn và lòng nhân bản làm nền tảng phát triển và hướng đích cho dân tộc đi đến phồn vinh.     Theo hướng đi này chúng ta có quyền đòi hỏi và kỳ vọng một số hành động sau đây.     + Lãnh đạo Đảng và Nhà nước lắng nghe bàn luận để thấy hết nguy cơ, thậm chí thảm họa mà đất nước nhân dân sẽ phải gánh chịu trong tương lai không xa nếu đất nước tiếp tục tụt hậu, dân tộc phân tâm.     + Lãnh đạo Đảng và Nhà nước quây quần cùng đại diện mọi tầng lớp nhân dân, ngày đêm họp bàn tìm phương kế cải cách, đưa nhanh đất nước đến hùng cường.    + Lãnh đạo Đảng và Nhà nước có chính sách sử dụng hiền tài, đưa đất nước vượt lên trên mọi lĩnh vực, từ phát triển kinh tế đến củng cố quốc phòng, từ dân chủ hóa đất nước đến xây dựng thiết chế nền tảng cho phát triển bền vững, từ cải cách giáo dục đến nâng cấp tiềm lực khoa học công nghệ, từ hợp tác quốc tế đến gia cường vị thế và hình ảnh Việt Nam.    + Có những bước đi đột phá táo bạo; đặc biệt là xây dựng một số đặc khu kinh tế nhằm huy động sức mạnh tổng lực của dân tộc, là hình mẫu của Việt Nam năm 2045, với sức đuổi vượt mạnh mẽ làm thế giới khâm phục và kính nể.    + Mỗi người dân Việt Nam, dù ở đâu hãy tự giác góp phần tạo nên hình ảnh một dân tộc có phẩm chất cao quí: thành tâm trong hợp tác, cầu thị trong học hỏi, ý thức trách nhiệm cao với cộng đồng. Việt Nam cần trở thành một điểm sáng, có sức tương phản và thu hút mạnh mẽ trong hun đúc những phẩm chất cao quí này.    [Theo Vietnamnet] </description>
   <link>http://dean165.vnweblogs.com/post/14795/305064</link>
      <pubDate>Thu, 16 Jun 2011 09:09:41 +0700</pubDate>   
  </item>
    <item>
   <title>Trung Quốc li&amp;ecirc;n tục g&amp;acirc;y rối khắp Biển Đ&amp;ocirc;ng</title>
   <description> Việc các loại tàu Trung Quốc gây hấn ở Biển Đông không phải là hiếm, nhưng số lần chúng gây rối và xâm phạm chủ quyền các nước khu vực trong nửa tháng qua đang tăng lên đột ngột với mức độ ngày càng trắng trợn.    Trung Quốc huy động nhiều loại tàu để xâm phạm vùng biển chủ quyền của Việt Nam cũng như một nước ASEAN khác là Philippines, từ tàu đánh cá có tàu ngư chính yểm trợ đằng sau cho đến các loại tàu hải giám và cả tàu quân sự. Ngoài việc ngang nhiên tiến vào chủ quyền nước khác, chúng còn tiến hành các hoạt động phá hoại tại đây.    Các sự kiện gần đây trên Biển Đông được coi là hành động leo thang trong chuỗi các động thái xâm phạm của Trung Quốc đối với Việt Nam và Philippines, từ bắt giữ, đánh đập, đòi tiền chuộc các ngư dân Việt Nam đánh bắt xa bờ tại Hoàng Sa, Trường Sa, đến tấn công tàu khảo sát trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.          Tàu Bình Minh 02 bị một trong 3 tàu hải giám Trung Quốc (ảnh dưới) phá hoại.       Dưới đây là nhật ký những ngày căng thẳng về Biển Đông vừa qua :     Ngày 21 và 24/5 : Tàu chiến và tàu hải giám Trung Quốc liên tục có hoạt động trong vùng biển thuộc chủ quyền của Philippines. Bộ Ngoại giao Philippines dẫn nguồn tin từ Bộ Quốc phòng nước này cho biết, các tàu Trung Quốc đã tiến hành các hoạt động xây dựng và thả phao gần một bãi cạn tại nơi chỉ cách đảo chính Palawan 125 hải lý, tức nằm hoàn toàn trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Philippines.    Ngoại trưởng Philippines Albert Rosario cho rằng bất cứ việc xây cất nào của Trung Quốc tại khu vực trên đều &quot;vi phạm rõ ràng&quot; Tuyên bố chung về cách ứng xử của các bên tại Biển Đông (DOC) mà Trung Quốc ký với ASEAN năm 2002. Bộ trưởng Quốc phòng Philippines Voltaire Gazmin thì nhấn mạnh mối lo ngại số vụ Trung Quốc xâm phạm chủ quyền của nước này đang ngày càng tăng lên.    Trong khi đó, Bộ Ngoại giao Trung Quốc ra thông báo chối bỏ cáo buộc các tàu hải quân của họ xâm phạm chủ quyền Philippines. Bắc Kinh cho rằng một tàu nghiên cứu hải dương học của họ chỉ đang tiến hành các nghiên cứu bình thường tại Biển Đông.     Ngày 26/5 : Sự kiện gây chấn động dư luận Việt Nam và khiến khu vực chú ý xảy ra lúc 5h5 sáng, khi nhóm 3 tàu hải giám của Trung Quốc bất ngờ xuất hiện tấn công tàu thăm dò địa chấn Bình Minh 02 của Tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam (PVN), đang làm việc tại lô 148 trong phạm vi thềm lục địa 200 hải lý của Việt Nam, chỉ cách mũi Đại Lãnh (Phú Yên) khoảng 120 hải lý.     Chúng chạy thẳng vào khu vực khảo sát của tàu Bình Minh 02 mà không hề có cảnh báo, sau đó chủ động chạy qua khu vực thả dây cáp nhằm cắt cáp thăm dò của tàu Việt Nam. Các tàu Trung Quốc sau đó liên tiếp có hành động uy hiếp tàu Bình Minh 02 và quấy nhiễu liên tục trong vài tiếng mới chịu rút đi lúc 9h sáng cùng ngày. Tàu Bình Minh 02 sau khi khắc phục các thiệt hại đã trở lại hoạt động bình thường.     Ngày 27/5:  Bộ Ngoại giao Việt Nam trao công hàm cho sứ quán Trung Quốc, trong đó yêu cầu Bắc Kinh chấm dứt ngay những hành động vi phạm chủ quyền đối với thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Đồng thời Việt Nam yêu cầu Trung Quốc phải bồi thường thiệt hại cho tàu Bình Minh 02. Nội dung công hàm nêu rõ Trung Quốc đã vi phạm nghiêm trọng quyền chủ quyền Việt Nam đối với thềm lục địa của mình.     Ngày 27/5 : Báo chí Trung Quốc đưa tin nước này sẽ xây dựng một giàn khoan hiện đại và khổng lồ tại Biển Đông vào tháng 6. Ngay lập tức Philippines triệu tập đại sứ Trung Quốc tới để yêu cầu giải thích về việc này. Đây là lần thứ hai liên tiếp đại sứ Trung Quốc tại Manila bị triệu tập, lần trước là vì các vụ tàu Trung Quốc xâm phạm chủ quyền Philippines.     Ngày 28/5 : Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Khương Du đưa ra tuyên bố vô căn cứ về pháp lý khi cho rằng, Việt Nam thăm dò dầu khí tại vùng biển do Trung Quốc quản lý và việc các cơ quan hữu quan nước này thực hiện là tuân thủ luật biển và hoạt động giám sát trên vùng biển thuộc chủ quyền Trung Quốc. Bắc Kinh còn khẳng định họ luôn nỗ lực duy trì hoà bình trên Biển Đông.     Ngày 29/5 : Bộ Ngoại giao Việt Nam tổ chức cuộc họp báo về sự kiện Trung Quốc phá hoại tàu Bình Minh 02, trong đó người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Phương Nga tuyên bố Việt Nam kiên quyết phản đối hành động của phía Trung Quốc phá hoại, cản trở hoạt động thăm dò bình thường của Việt Nam trong vùng thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế.     Bà Nga cũng nhắc lại những yêu cầu đối với phía Trung Quốc như trong công hàm đã trao cho đại diện ngoại giao của Bắc Kinh, đồng thời bác bỏ tuyên bố ngày 28/5 của Trung Quốc. Bộ Ngoại giao Việt Nam cho rằng Trung Quốc đang cố tình đánh lừa dư luận bằng cách làm cho dư luận hiểu nhầm khu vực không có tranh chấp thành khu vực có tranh chấp.          Vị trí các tàu hải giám Trung Quốc vi phạm chủ quyền Việt Nam và cắt cáp của tàu Bình Minh 02. Ảnh:  TTXVN .     Ngày 31/5 : Một lần nữa người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Khương Du đưa ra tuyên bố ngang ngược khi cho rằng tàu hải giám Trung Quốc đã thực thi hành động chấp pháp đối với tàu Việt Nam đang hoạt động phi pháp trên vùng biển của Trung Quốc. Bắc Kinh còn ngang nghiên cho rằng hành động của Trung Quốc đối với tàu Bình Minh 02 là hoàn toàn chính đáng.     Cũng trong ngày 31/5, hội thảo quốc tế về Biển Đông bế mạc tại Indonesia và ra Tuyên bố Jakarta, trong đó nhấn mạnh Biển Đông là vấn đề đa phương. Các đại biểu dự hội thảo cho rằng duy trì hòa bình và ổn định ở Biển Đông là cần thiết cho toàn bộ khu vực và việc sử dụng vũ lực để giải quyết các vấn đề là rất nguy hiểm.     Ngày 31/5 : Trong lúc 4 tàu đánh cá của ngư dân TP Tuy Hòa đang hành nghề đánh bắt cá ngừ đại dương ở vị trí 8 độ 56’ vĩ độ bắc, 112 độ 45’ kinh độ đông, cách đảo Đá Đông, quần đảo Trường Sa, tỉnh Khánh Hòa khoảng 5 hải lý về phía đông nam, thì 3 chiếc tàu Hải quân Trung Quốc đã nổ súng bắn xuống nước uy hiếp, đe dọa không cho ngư dân Việt Nam hành nghề.     Theo Bộ chỉ huy biên phòng tỉnh Phú Yên, tình trạng ngư dân Phú Yên đánh bắt cá ngừ đại dương quanh khu vực quần đảo Trường Sa, trong phạm vi vùng biển chủ quyền Việt Nam bị tàu quân sự Trung Quốc quấy nhiễu, dùng vũ lực, súng để bắn, dọa và chèn ép đã từng nhiều lần xảy ra. Cùng ngày, một tàu thăm dò dầu khí của Việt Nam là Viking II đang làm việc trong vùng biển chủ quyền của Việt Nam lại bị tàu Trung Quốc tới gây rối.      Ngày 2/6 : Bộ Ngoại giao Việt Nam trao công hàm cho đại diện đại sứ quán Trung Quốc phản đối việc hải quân nước này dùng súng uy hiếp ngư dân Việt Nam khi đang đánh cá tại vùng biển thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam trong ngày 31/5. Đại diện Bộ Ngoại giao Việt Nam yêu cầu phía Trung Quốc chấm dứt ngay các hành động xâm phạm chủ quyền của Việt Nam và cản trở tàu cá và ngư dân Việt Nam hoạt động tại khu vực này.    Trong một diễn biến khác cũng trong ngày 2/6, Tổng thống Philippines Benigno Aquino III tuyên bố sẽ đệ trình thư lên Liên Hiệp Quốc để phản đối việc hàng loạt tàu Trung Quốc xâm nhập vùng biển nước này.     Ngày 3/6 : Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hồng Lỗi chối bỏ không có tàu Trung Quốc nào nổ súng uy hiếp ngư dân Việt Nam gần quần đảo Trường Sa. Ông này cho rằng thông tin ba tàu Trung Quốc nổ súng là không có thực và tuyên bố &quot;Trung Quốc cam kết duy trì hòa bình và ổn định&quot; ở Biển Đông.     Cũng trong ngày 3/6, Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Lương Quang Liệt trong cuộc gặp với Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam Phùng Quang Thanh bên lề Đối thoại Shangri-La đã cam kết “duy trì hòa bình và ổn định ở biển Đông, thực thi đầy đủ Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở biển Đông (DOC)”.     Ngày 4/6 : Bộ Ngoại giao Philippines ra thông báo khẳng định các hành vi xâm phạm của tàu Trung Quốc đối với chủ quyền của quốc gia Đông Nam Á này là &quot;xâm phạm hòa bình và ổn định khu vực, vi phạm nghiêm trọng DOC”.         Tàu Viking II và tàu ngư chính Trung Quốc (ảnh dưới).     Ngày 7/6 : Trong chuyến thăm huyện đảo Cô Tô của tỉnh Quảng Ninh, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết nhấn mạnh: &quot;Chúng ta mong muốn các vùng biển và hải đảo của tổ quốc luôn hoà bình, hữu nghị, ổn định, nhưng chúng ta cũng quyết tâm làm hết sức mình để bảo vệ&quot;.     Ngày 8/6 : Phát biểu bế mạc Tuần lễ biển và hải đảo, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khẳng định Việt Nam sẽ kiên quyết đấu tranh với các hoạt động vi phạm chủ quyền. Ông nhấn mạnh Việt Nam cần xác định các nhiệm vụ trọng tâm về biển và hải đảo, trong đó nhiệm vụ đầu tiên là tiếp tục khẳng định mạnh mẽ và thể hiện ý chí trong việc bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam trên các vùng biển và hải đảo.    Thủ tướng Việt Nam một lần nữa khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, chủ quyền và quyền chủ quyền của Việt Nam đối với các vùng biển, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa theo Công ước Luật biển năm 1982 của Liên Hợp Quốc.    Cũng trong ngày 8/6, tại hội nghị Chính sách an ninh Diễn đàn khu vực ASEAN (AFR) lần thứ 8 diễn ra tại Indonesia, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam Nguyễn Chí Vịnh nhấn mạnh rằng tất cả tranh chấp, bất đồng trong vấn đề Biển Đông cần phải được giải quyết bằng biện pháp hòa bình, tránh những hành động đơn phương, đặc biệt tuyệt đối không được sử dụng bạo lực, sử dụng các biện pháp mạnh để hành xử với nhau.     Ngày 9/6 : Lúc 6h sáng, một tàu cá của Trung Quốc với sự hỗ trợ của hai tàu ngư chính đã chạy ngang qua mũi tàu khảo sát Viking II đang được Tập đoàn dầu khí Việt Nam thuê. Tàu Việt Nam đã phát pháo hiệu cảnh cáo nhưng tàu cá Trung Quốc vẫn lao vào cắt cáp thăm dò của tàu Viking II. Ngay sau đó hai tàu ngư chính và các tàu khác của Trung Quốc xông vào giải cứu cho tàu cá vừa có hành vi phá hoại.    Trong cuộc họp báo chiều cùng ngày, Bộ Ngoại giao Việt Nam khẳng định khu vực mà tàu Viking II đang hoạt động khi sự việc xảy ra nằm hoàn toàn trong phạm vi chủ quyền 200 hải lý của Việt Nam. Việt Nam phản đối mạnh mẽ hành động vi phạm chủ quyền của tàu Trung Quốc, yêu cầu chấm dứt ngay không để tái diễn các hành động tương tự và đòi phía Trung Quốc bồi thường thiệt hại gây ra.     Tới buổi tối, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hồng Lỗi lên tiếng biện minh rằng tàu cá của Trung Quốc đang hoạt động ở khu vực gần Trường Sa thì &quot;bị tàu của Việt Nam đuổi theo. Trong quá trình đuổi đó tàu của Trung Quốc vướng vào cáp của tàu khảo sát dầu khí của Việt Nam&quot;. Bắc Kinh chối việc tàu nước này quấy rối tàu khảo sát của Việt Nam đồng thời tiếp tục ra yêu cầu ngang ngược đòi Việt Nam &quot;ngừng các hành động vi phạm chủ quyền của Trung Quốc&quot;.     Như vậy chỉ trong vòng nửa tháng, các tàu Trung Quốc từ hải giám, ngư chính đến tàu cá đã hai lần ngang ngược xâm phạm vùng biển chủ quyền của Việt Nam để tấn công, phá hoại cáp thăm dò trên các tàu thuộc Tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam. Bên cạnh đó, tàu Trung Quốc còn dùng súng uy hiếp ngư dân Việt Nam và nhiều lần xâm phạm chủ quyền của Philippines.    [VnExpress] </description>
   <link>http://dean165.vnweblogs.com/post/14795/303940</link>
      <pubDate>Fri, 10 Jun 2011 10:40:23 +0700</pubDate>   
  </item>
    <item>
   <title>Y&amp;ecirc;u s&amp;aacute;ch &amp;quot;Đường lưỡi b&amp;ograve;&amp;quot; - Phi l&amp;yacute; &amp;amp; ngụy biện</title>
   <description>      Đường yêu sách 9 đoạn của Trung Quốc trên biển Đông     Bản đồ &quot;đường lưỡi bò&quot; được Trung Quốc đưa ra quá phi lý về cả góc độ lịch sử và pháp lý quốc tế, đó là nhận định của chuyên gia nghiên cứu về biển Đông, Th.s Hoàng Việt - Giảng viên Trường Đại học Luật TPHCM.   Không có cơ sở      Thạc sĩ Việt nói: Trung Quốc chỉ đưa một bản đồ có đường lưỡi bò kèm theo công hàm của họ phản đối về các báo cáo của Việt Nam về ranh giới ngoài thềm lục địa (năm 2009). Nhưng họ cũng không giải thích rõ ràng đường lưỡi bò này là gì.     Theo các học giả Trung Quốc, đường lưỡi bò chính thức xuất hiện lần đầu tiên trên một bản đồ do chính quyền Cộng hòa Trung Hoa xuất bản vào tháng 2-1948, được thể hiện là một đường đứt khúc gồm có 11 đoạn, bao trùm xung quanh cả bốn nhóm quần đảo, bãi ngầm lớn trên biển Đông.                     Chuyên gia nghiên cứu biển Đông Hoàng Việt      Đến năm 1953, theo phê chuẩn của Thủ tướng Chu Ân Lai, đường lưỡi bò bị bỏ hai đoạn đứt khúc, nằm giữa đảo Hải Nam và bờ biển Việt Nam trong vịnh Bắc Bộ, một đoạn nằm giữa Đài Loan và các đảo Lưu Cầu (Ryu Kyu) của Nhật Bản. Và từ giai đoạn này trở đi, nó chỉ còn 9 đoạn.    Đặc tính quan trọng nhất của một đường biên giới quốc tế là sự ổn định và dứt khoát. Đường lưỡi bò không phải là con đường có tính ổn định và xác định. Như đã nói, từ 11 đoạn, năm 1953, Trung Quốc đã phải bỏ đi hai đoạn vì quá vô lý.     Nói như Du Khoan Tứ, GS Luật của Đại học Quốc lập, Đài Loan: “Đường ranh giới chữ U không những được xác định trước khi Công ước Geneva 1958 về lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải và Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển (UNCLOS) 1982 xuất hiện, mà còn không có điểm cơ sở, cũng không có mốc kinh độ, vĩ độ, vì thế nó khó mà biểu thị là một đường biên giới được”.            Phi lý về mặt lịch sử      Yêu sách đường lưỡi bò quá ư phi lý vì những lẽ sau:      Thứ nhất , Trung Quốc cho rằng đã thực thi chủ quyền trên vùng biển này từ rất lâu, thậm chí từ trước Công nguyên. Nhưng, họ lại không đưa ra được các bằng chứng thuyết phục về vấn đề này. Ngược lại, các sách Hán văn cổ đều ghi nhận các hoạt động của dân đánh cá và dân buôn Ả rập, Ấn Độ, Mã Lai, Việt trong vùng biển này, không có một bằng chứng nào cho thấy biển Đông hoàn toàn là “ao hồ của Trung Quốc”.     Các chính quyền phong kiến Trung Quốc cũng không thiết lập hoặc duy trì có lợi cho họ một sự độc tôn nào, trước các hoạt động khai thác của các đội Hoàng Sa và Bắc Hải của triều Nguyễn. Ngược lại còn có những hành động thừa nhận tính hợp pháp của các hoạt động đó như trường hợp năm 1774: quan huyện Văn Xương giúp đội viên đội Hoàng Sa khi đi làm nhiệm vụ bị bão dạt vào đất Trung Quốc.      Thứ hai , các văn kiện chính thức của nhà nước phong kiến Trung Quốc, như Đại Nguyên nhất thống chí (1294) đến Đại Thanh Nhất thống chí (1842), trước năm 1909 đều khẳng định “cực Nam của lãnh thổ Trung Quốc là Nhai huyện, đảo Hải Nam”.     Các bản đồ lãnh thổ Trung Quốc của người nước ngoài cùng thời cũng vẽ và giải thích phù hợp với cách hiểu này của người Trung Quốc. Bản đồ Trung Quốc thế kỷ XVII của Peter de Goyer và Jacob de Keyzer thuộc Cty Đông Ấn - Hà Lan cũng có lời giải thích rất rõ: “Nơi xa nhất của Trung Quốc bắt đầu từ phía Nam đảo Hải Nam ở 18 độ vĩ Bắc, rồi từ đó ngược lên phía Bắc đến vĩ độ 42 độ”.     Trung Quốc chỉ thực sự bước chân lên quần đảo Hoàng Sa năm 1909 khi quần đảo này đã thuộc Việt Nam, không còn là đất vô chủ.      Phi lý ở cả góc độ luật pháp quốc tế            Đường lưỡi bò không chỉ bị Việt Nam mà ngay cả Malaysia, Indonesia, Philippines… phản đối bởi vì nó không có cơ sở nào trong pháp luật quốc tế. Bản thân các học giả Trung Quốc rất bối rối khi tìm quy chế pháp lý áp dụng cho vùng nước bao bọc bên trong đường lưỡi bò đó, chưa kể đến việc chính quyền Trung Quốc đã đưa ra những tuyên bố trái ngược nhau.     Tuyên bố năm 1958 về lãnh hải của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa xác định rõ ràng các đảo bị tách biệt với lục địa bởi biển cả, chứ không phải là vùng nước lịch sử. Chẳng lẽ lại tồn tại vùng biển cả nằm trong nội thủy của Trung Quốc? Không thể có điều vô lý đó.     Khái niệm vịnh lịch sử hay vùng nước lịch sử đã được luật pháp quốc tế chấp nhận trong một số hoàn cảnh hạn chế. Năm 1962, Ủy ban pháp luật quốc tế thực hiện nghiên cứu. Quy chế pháp lý của vùng nước lịch sử, bao gồm cả vịnh lịch sử.     Theo đó, xác định tiêu chuẩn một vịnh hay một vùng nước được coi là lịch sử, căn cứ theo tập quán quốc tế và các án lệ quốc tế phải thỏa mãn tối thiểu 3 điều kiện sau: 1) Quốc gia ven biển thực thi chủ quyền của mình đối với vùng được yêu sách; 2) Sự liên tục của việc thực thi quyền lực đó theo thời gian; 3) Quan điểm của các quốc gia khác với yêu sách đó. Ngoài ra, một quốc gia yêu sách danh nghĩa lịch sử phải có trách nhiệm đưa ra bằng chứng đối với các vùng nước có vấn đề đang tranh cãi này.     Theo phân tích ở trên, Trung Quốc đã không trưng ra được những bằng chứng gì chứng minh họ đã thực thi chủ quyền của họ một cách sớm nhất, liên tục, với những biện pháp hòa bình mà luật pháp quốc tế yêu cầu.     Ngay cả khi các học giả Trung Quốc đã viện dẫn một số trường hợp yêu sách vùng nước lịch sử trong thực tiễn quốc tế như: yêu sách của Libya ngày 11-10-1973 tại vịnh Sidra… Nhưng 15 trường hợp này là những yêu sách quá đáng “vùng nước lịch sử” mà luật pháp quốc tế luôn phê phán. Nó không tạo ra được một ý thức pháp luật và không bao giờ được luật quốc tế chấp nhận như một quy tắc tập quán.     Cộng đồng quốc tế chưa bao giờ ghi nhận một yêu sách vùng nước nằm trong đường lưỡi bò chiếm 80% diện tích biển Đông như thế. Yêu sách biển Đông như một ao hồ của Trung Quốc là xa lạ, đi ngược lại học thuyết các vùng nước lịch sử và sẽ không chấp nhận một khoảng không gian rộng lớn như biển này, biển lớn vào loại nhất, nhì thế giới lại nằm dưới quyền tài phán của duy nhất một nước.    Ngày 7-5-2009, Trung Quốc lần đầu tiên công khai bản đồ  đường lưỡi bò  kèm theo công hàm phản đối báo cáo của Việt Nam và Malaysia. Ngay sau đó, ngày 8-5-2009, Việt Nam và Malaysia cùng gửi công hàm phản đối lại.     Ngày 8-7-2010, Indonesia gửi công hàm lên Liên Hợp Quốc, trong đó nói rõ  đường lưỡi bò  không có cơ sở nào trong luật pháp quốc tế. Ngày 5-4-2011, Philippines cũng gửi công hàm lên Liên Hợp Quốc phản đối  đường lưỡi bò.     Ngày 30-3-2011, Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton ra tuyên bố gián tiếp phản đối sự vô lý của yêu sách  đường lưỡi bò…  Như vậy, có thể nói là yêu sách này chưa bao giờ có được sự thừa nhận của cộng đồng quốc tế.     ThS. Hoàng Việt    Theo TPO </description>
   <link>http://dean165.vnweblogs.com/post/14795/303044</link>
      <pubDate>Mon, 06 Jun 2011 10:13:35 +0700</pubDate>   
  </item>
    <item>
   <title>Vấn đề Biển Đ&amp;ocirc;ng dưới &amp;aacute;nh s&amp;aacute;ng ph&amp;aacute;p luật quốc tế</title>
   <description>        Âu tàu đảo Song Tử Tây trên quần đảo Trường Sa. (Ảnh: Phương Hoa/TTXVN)      Ngày 23/3/2011, Tân Hoa Xã, hãng tin chính thức của Trung Quốc, đã phát bài viết “Tranh chấp Nam Hải dưới góc độ của luật biển quốc tế” của hai học giả Hạ Giám và Uông Cao, Đại học Tương Đàm, trong đó không những khẳng định cái gọi là “chủ quyền” của Trung Quốc mà còn vu cáo Việt Nam và các nước Đông Nam Á khác, “bẻ cong” Công ước Luật Biển năm 1982 của Liên hợp quốc và “tranh giành chủ quyền của Trung Quốc” ở Biển Đông.     Vietnam Plus  xin giới thiệu bài viết “Vấn đề Biển Đông dưới ánh sáng của pháp luật quốc tế” của tác giả Hải Biên, nhà nghiên cứu về Biển Đông của Việt Nam, nhằm làm rõ vấn đề Biển Đông dưới ánh sáng của pháp luật quốc tế, đặc biệt là Công ước Luật Biển năm 1982 của Liên hợp quốc.    1. Khái quát về Biển Đông       Biển Đông là một biển nửa kín ở khu vực Thái Bình Dương với diện tích hơn 3, 5 triệu km2. Có 9 quốc gia ven Biển Đông là Việt Nam, Trung Quốc, Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia, Thái Lan, Campuchia và Singapore.      Trữ lượng tài nguyên thiên nhiên ở Biển Đông lớn, đặc biệt là dầu, khí và hải sản. Gần đây, nhiều thông tin cho biết Biển Đông có trữ lượng khá lớn về băng cháy.      Biển Đông là tuyến hàng hải nhộn nhịp thứ hai trên thế giới, sau tuyến Địa Trung Hải. Mỗi ngày có khoảng 150-200 tàu trọng tài lớn đi qua Biển Đông. Hàng hóa xuất nhập khẩu thiết yếu đối với các nền kinh tế lớn như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Hong Kong phụ thuộc rất nhiều vào tuyến đường biển này.      Từ góc độ quân sự, Biển Đông là địa bàn hoạt động của hạm đội hải quân của nhiều nước trong và ngoài khu vực. Tất cả những yếu tố này dẫn đến một hệ quả tất yếu và hiển nhiên là ở Biển Đông có sự đan xen rất chặt chẽ lợi ích của nhiều nước với các mức độ khác nhau. Hòa bình và ổn định ở Biển Đông ảnh hưởng trực tiếp đến hòa bình và ổn định của khu vực và thế giới.      2. Các vùng biển của các quốc gia ven Biển Đông theo luật biển quốc tế      Hội nghị Luật Biển lần thứ III của Liên hợp quốc (1967-1982) đã thông qua Công ước Luật Biển năm 1982 với 320 điều khoản và 9 Phụ lục. Là thành quả của một cuộc thương lượng lâu dài giữa các nhóm nước khác nhau, Công ước là một giải pháp cả gói công bằng và đỉnh cao trong quá trình pháp điển hóa và phát triển tiến bộ ngành luật biển quốc tế.      Công ước xác lập rõ ràng quy chế pháp lý của các vùng biển khác nhau thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền của các quốc gia ven biển, quy định quyền và nghĩa vụ của các quốc gia khi tiến hành các hoạt động liên quan đến biển và thành lập một loạt cơ chế quốc tế quan trọng liên quan đến thực hiện Công ước và giải quyết tranh chấp biển như Tòa án Luật Biển quốc tế, Hội nghị các quốc gia thành viên của Công ước, Cơ quan Quyền lực quốc tế về Đáy Đại dương và Ủy ban Thềm lục địa.      Tính đến nay, đã có 161 quốc gia và tổ chức quốc tế tham gia Công ước Luật Biển năm 1982, trong đó có 7 quốc gia ven Biển Đông là Việt Nam, Trung Quốc, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, Brunei.     Áp dụng Công ước Luật Biển năm 1982 của Liên hợp quốc vào điều kiện cụ thể của Biển Đông chúng ta thấy mấy điểm cơ bản sau đây.       Một là,  các quốc gia ven Biển Đông có chủ quyền đối với nội thủy và lãnh hải 12 hải lý kể từ đường cơ sở của mình. Đáng lưu ý là theo luật biển quốc tế những năm 40 - 50 của thế kỷ trước, vùng lãnh hải của các quốc gia ven Biển Đông chỉ có 3 hải lý và toàn bộ phía ngoài 3 hải lý đó là vùng biển quốc tế. Như vậy, Công ước đã mở rộng phạm vi vùng lãnh hải của các quốc gia ven Biển Đông thêm 9 hải lý.      Hai là,  mỗi quốc gia ven Biển Đông có quyền chủ quyền đối với vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục địa tối thiếu 200 hải lý của mình. Chiều rộng của hai vùng biển này đều được đo từ đường cơ sở dùng để tính lãnh hải. Trong trường hợp thềm lục địa thực tế lớn hơn 200 hải lý thì quốc gia ven Biển Đông có thể mở rộng thềm lục địa của mình đến 350 hải lý với điều kiện tuân thủ đúng các quy định và thủ tục nêu trong Công ước.      Mỗi quốc gia ven Biển Đông có toàn quyền thăm dò, khai thác các tài nguyên trong các vùng biển của mình, đặc biệt là trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, để phục vụ đời sống nhân dân và phát triển đất nước. Mỗi quốc gia ven Biển Đông có toàn quyền quyết định cho phép hay không cho phép các quốc gia khác khai thác tài nguyên trong các vùng biển của mình. Mỗi quốc gia ven Biển Đông có nghĩa vụ tôn trọng các quyền chủ quyền đó của các quốc gia láng giềng khác ven Biển Đông.      Đồng thời, phù hợp các quy định của Công ước Luật Biển năm 1982, các quốc gia ven Biển Đông có nghĩa vụ tôn trọng quyền của các quốc gia khác được tự do hàng hải, tự do hàng không ở trong vùng đặc quyền kinh tế và ở vùng trời trên vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của quốc gia ven biển.       Ba là,  xuất phát từ Công ước Luật Biển năm 1982 thì sự kiện Trung Quốc ký hợp đồng với Công ty Creston năm 1992 ở bãi Tư Chính của Việt Nam và chính thức đưa yêu sách “đường lưỡi bò” ra Liên hợp quốc vào tháng 5/2009 cần được nhìn nhận thế nào? Khu vực bãi Tư Chính hoàn toàn nằm trong phạm vi thềm lục địa 200 hải lý của Việt Nam và đã được Việt Nam phân lô thăm dò dầu khí. Việc Công ty Dầu khí quốc gia Trung Quốc vào năm 1992 ký với Công ty Creston của Mỹ hợp đồng thăm dò dầu khí tại khu vực bãi Tư Chính trong thềm lục địa 200 hải lý của Việt Nam (mà họ đặt tên là Vạn An Bắc) là sự vi phạm trắng trợn quyền chủ quyền của Việt Nam theo Công ước Luật Biển năm 1982.      Còn về yêu sách “đường lưỡi bò” hay “đường 9 đoạn,” thì các học giả Trung Quốc đều biết rõ là tại Hội thảo quốc tế về Biển Đông ở Hà Nội (2009) và Thành phố Hồ Chí Minh (2010) cũng như các Hội thảo quốc tế khác, các học giả Pháp, Bỉ, Mỹ và nhiều học giả quốc tế khác đã nêu rõ yêu sách “đường lưỡi bò” mơ hồ, không có cơ sở và cho rằng Trung Quốc cần giải thích rõ bản chất pháp lý của các vùng biển trong “đường lưỡi bò” đó. Nhưng cho đến nay, cả chính giới lẫn học giả Trung Quốc đều không thể đưa ra các câu trả lời thỏa đáng.     Dùng các quy định của Công ước Luật Biển năm 1982 mà Trung Quốc cũng là một bên tham gia để đối chiếu thì ai cũng thấy rằng yêu sách này hoàn toàn trái với các quy định của Công ước. Không một quy định nào của Công ước có thể biện minh cho yêu sách “đường lưỡi bò.” Đơn giản bởi vì vùng biển mà “đường lưỡi bò” ngoạm vào không thể nào là lãnh hải hoặc vùng đặc quyền kinh tế hoặc là thềm lục địa của Trung Quốc. Đó chính là vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, Philippines, Malaysia, Indonesia và Brunei.      Yêu sách “đường lưỡi bò” phi lý nói trên đã vi phạm nghiêm trọng quyền chủ quyền của 5 nước ASEAN đối với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của mình. Chính vì vậy, mà Việt Nam, Malaysia, Indonesia và Philippines lần lượt gửi công hàm đến Tổng Thư ký Liên hợp quốc bác bỏ yêu sách này.      Việc đưa yêu sách phi lý nói trên ra Liên hợp quốc và tiến hành các việc làm gần đây ở trên thực địa nhằm theo đuổi yêu sách này đang làm cho tình hình Biển Đông trở nên phức tạp hơn, gây lo ngại thực sự cho cộng đồng thế giới và buộc dư luận phải lên tiếng. Không chỉ các quốc gia liên quan tranh chấp ở Biển Đông mà dư luận của nhiều quốc gia khác cũng đã bày tỏ ý kiến bất bình trước yêu sách này.      3. Các tranh chấp ở Biển Đông hiện nay dưới ánh sáng của pháp luật quốc tế      Ở Biển Đông có hai loại tranh chấp, gồm tranh chấp về các vùng thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế chồng lấn và tranh chấp về chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.      a. Do chiều rộng của một số khu vực ở Biển Đông (như Vịnh Bắc Bộ và Vịnh Thái Lan) hẹp hơn 400 hải lý, nên một phần vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của các quốc gia láng giềng chồng lấn lên nhau. Từ đó nảy sinh một số tranh chấp giữa các quốc gia ven Biển Đông về ranh giới vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.       Liên quan Việt Nam, ở phía Bắc chúng ta có vùng chồng lấn thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế với Trung Quốc trong Vịnh Bắc Bộ và khu vực nhỏ phía ngoài cửa Vịnh, còn ở phía Nam có vùng chồng lấn với Campuchia, Thái Lan, Malaysia trong Vịnh Thái Lan và vùng chồng lấn với Indonesia ở nam Biển Đông.      Các nước ven Biển Đông khác cũng có một số vùng chồng lấn thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế với nhau, như giữa Malaysia và Thái Lan, giữa Thái Lan và Campuchia, giữa Indonesia và Malaysia. Các khu vực chồng lấn này đã và đang từng bước được Việt Nam và các nước hữu quan giải quyết thỏa đáng theo các quy định của Công ước Luật Biển năm 1982.      b. Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa gồm nhiều đảo đá san hô rất nhỏ ở giữa Biển Đông. Hiện nay, hai quần đảo đang là tâm điểm tranh chấp phức tạp giữa một số nước ven Biển Đông. Tranh chấp về chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa liên quan Việt Nam và Trung Quốc, còn tranh chấp về chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa liên quan 5 nước, 6 bên là Việt Nam, Trung Quốc, Philippines, Malaysia, Brunei (Brunei không yêu sách về chủ quyền các đảo) và Đài Loan (Trung Quốc).      Đối với việc giải quyết tranh chấp chủ quyền đối với lãnh thổ, pháp luật quốc tế đã hình thành nguyên tắc xác lập chủ quyền là nguyên tắc chiếm hữu thật sự và thực hiện quyền lực Nhà nước một cách thật sự, liên tục và hòa bình. Nguyên tắc này đã được các nước và các cơ quan tài phán quốc tế áp dụng để giải quyết nhiều vụ tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ ở trên thế giới. Trong số đó, các vụ kinh điển thường được viện dẫn nhiều là vụ tranh chấp đảo Palmas giữa Mỹ và Hà Lan, vụ Minquiers và Ecréhous giữa Anh và Pháp, vụ đảo Clipperton giữa Mexico và Pháp, vụ Greenland giữa Na Uy và Đan Mạch…     Áp dụng nguyên tắc nói trên của pháp luật quốc tế vào trường hợp hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, mọi ngưòi đều thấy rằng Nhà nước Việt Nam đã chiếm hữu thật sự hai quần đảo này hàng trăm năm nay. Nói chính xác là nhà nước ta đã thực hiện chủ quyền ở đây ít ra từ thế kỷ XVII khi hai quần đảo chưa hề thuộc chủ quyền của bất cứ nước nào. Từ đó Việt Nam đã thực hiện thật sự chủ quyền của mình đối với hai quần đảo một cách liên tục và hòa bình.      Các bằng chứng mà Việt Nam đã thu thập được rất phong phú.              Một là,  các bản đồ Việt Nam thế kỷ XVII đã gọi hai quần đảo bằng cái tên Bãi Cát Vàng và ghi vào địa hạt huyện Bình Sơn, phủ Quảng Ngãi. Hai là, nhiều sách cổ của Việt Nam như Toàn Tập Thiên Nam Tứ chí Lộ Đồ Thư (thế kỷ XVII), Phủ Biên Tạp Lục (1776), Đại Nam Thực Lục Tiền Biên và Chính Biên (1844-1848)… đều nói về việc nhà nước cử đội Hoàng Sa ra khai thác quần đảo này.       Hai là,  nhiều sách cổ, bản đồ cổ của nước ngoài cũng thể hiện các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam.       Ba là,  Nhà nước phong kiến Việt Nam đã tổ chức các đội Hoàng Sa, Bắc Hải để tiến hành khai thác hai quần đảo (mỗi đội Hoàng Sa gồm 70 người, ra Hoàng Sa 6 tháng đánh bắt hải sản như đồi mồi, hải sâm, ốc quý‎ và thu lượm hàng hóa trên các tàu bị đắm). Các thể lệ tuyển chọn người, chế độ khen thưởng, đãi ngộ đối với các đội đều được nhà nước quy định rõ ràng.      Các đội này được duy trì và hoạt động liên tục từ thời chúa Nguyễn (1558-1783), đến nhà Tây Sơn (1786-1802) và nhà Nguyễn. Triều đình Nhà Nguyễn đã cử các tướng Phạm Quang Ảnh (năm 1815), Trương Phúc Sĩ, Phạm Văn Nguyên, Phạm Hữu Nhật (các năm 1834, 1835, 1836) ra Hoàng Sa khảo sát, đo đạc các đảo, khảo sát, vẽ bản đồ, xây miếu, dựng bia. Năm 2009, gia tộc họ Đặng ở đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi vừa mới hiến tặng Nhà nước một sắc lệnh trong gia phả của dòng họ khẳng định chủ quyền của Việt Nam.      Sau khi đô hộ Đông Dương, Pháp nhân danh Việt Nam tiếp tục quản lý hai quần đảo qua việc cử tàu chiến tuần tiễu để đảm bảo an ninh, ngăn chặn buôn lậu, cho phép người Nhật khai thác phân chim trên đảo, cử tàu De Lanessan ra nghiên cứu hải dương, địa chất, sinh vật… Từ năm 1930 đến 1932, các tàu chiến Inconstant, Alerte, La Malicieuse và De Lanessan của hải quân Pháp liên tiếp ra quần đảo Hoàng Sa. Đầu những năm 30 của thế kỷ 20, Pháp cho quân đóng ở các đảo chính thuộc quần đảo Trường Sa (Trường Sa, An Bang, Ba Bình, nhóm Song Tử, Loại Ta và Thị Tứ) .      Các hoạt động này đã được công bố trong Công báo của Cộng hòa Pháp ngày 26/7/1933. Năm 1933, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định quy thuộc quần đảo Trường Sa vào tỉnh Bà Rịa. Pháp cũng tách quần đảo Hoàng Sa ra khỏi tỉnh Nam Nghĩa và đặt vào tỉnh Thừa Thiên và cho một đơn vị đóng quân ở đó. Sau khi trở lại Đông Dương, Pháp đã yêu cầu quân Trung Hoa Dân Quốc rút khỏi các đảo mà họ đã chiếm đóng trái phép năm 1946 và Pháp đã cho quân thay thế quân Trung Quốc, xây dựng lại trạm khí tượng, đài vô tuyến.     Vào năm 1951, tại Hội nghị San Francisco có một đề nghị bổ sung bản dự thảo Hòa ước yêu cầu trao trả cho Trung Quốc hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Nhưng Hội nghị đã bác bỏ đề nghị này với số phiếu áp đảo là 46 phiếu thuận, 3 phiếu chống và 1 phiếu trắng. Tại Hội nghị Trưởng đoàn quốc gia Việt Nam đã tuyên bố khẳng định chủ quyền lâu đời của Nhà nước Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà không gặp sự phản đối hay bảo lưu của nước nào. Năm 1956 Pháp chuyển giao lãnh thổ miền Nam Việt Nam cho chính quyền Sài Gòn và nhà cầm quyền Sài Gòn đã cho quân ra tiếp quản, tổ chức hai quần đảo về mặt hành chính (lập ở mỗi quần đảo một xã thuộc một huyện ở đất liền), xây các bia chủ quyền, duy trì các trạm khí tượng.     Từ những năm 50 của thế kỷ 20 tình hình hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trở nên phức tạp hơn. Đó là, lợi dụng việc Pháp rút khỏi Đông Dương theo Hiệp định Geneva năm 1954, Trung Quốc đã chiếm nhóm đảo phía Đông của quần đảo Hoàng Sa vào năm 1956. Chính quyền Sài Gòn kịch liệt phản đối. Năm 1959 quân Trung Quốc giả làm ngư dân đổ bộ lên nhóm đảo phía Tây quần đảo Hoàng Sa. Quân đội của chính quyền Sài Gòn đã đánh trả thắng lợi và bắt 82 “ngư dân” Trung Quốc. Đối với nhóm đảo phía Tây của quần đảo Hoàng Sa, chính quyền Sài Gòn tiếp tục quản lý cho đến năm 1974.      Năm 1974, lợi dụng việc quân đội Sài Gòn phải đối phó với cuộc tiến công của quân cách mạng, Trung Quốc dùng không quân, hải quân chiếm luôn phần phía Tây của quần đảo Hoàng Sa. Chính quyền Sài Gòn và Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam đã phản đối. Năm 1975, chính quyền Sài Gòn sụp đổ, Nhà nước Việt Nam tiếp quản các đảo ở Trường Sa và lập các huyện đảo Hoàng Sa và huyện đảo Trường Sa. Một sự thật hiển nhiên là cho đến năm 1988 chưa hề có bất kỳ sự hiện diện của Trung Quốc ở quần đảo Trường Sa.      Ngày 14/3/1988, Trung Quân bắt đầu dùng vũ lực chiếm đóng một số đảo đá ở quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Trong trận chiến không cân sức năm đó, 64 người con yêu quý của Tổ quốc Việt Nam đã ngã xuống để bảo vệ chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa.      Tóm lại, dưới ánh sáng của pháp luật quốc tế, Việt Nam có đầy đủ chứng cứ lịch sử và cơ sở pháp lý khẳng định chủ quyền của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Sự thật lịch sử là Trung Quốc bắt đầu chiếm đóng nửa phía Đông quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam từ những năm 50 của thế kỷ trước và đến năm 1974 dùng vũ lực chiếm luôn phần phía Tây của quần đảo này. Còn ngày 14/3/1988 là ngày Trung Quốc dùng vũ lực để chiếm một số đảo đá thuộc quần đảo Trường Sa của chúng ta.       4. Giải pháp cho các vấn đề liên quan Biển Đông      a. Các vấn đề liên quan Biển Đông rất phức tạp, hệ trọng và nhạy cảm đối với nhiều quốc gia liên quan. Các nguồn lợi trong các vùng biển ở Biển Đông rất quan trọng đối với kế sinh nhai và đời sống hàng ngày của hàng trăm triệu con người của 9 quốc gia ven Biển Đông. Các tài nguyên thiên nhiên ở đây là một điều kiện cần thiết cho sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế của các nước liên quan. Các nước ven Biển Đông đang đẩy mạnh các hoạt động thực hiện chủ quyền biển, đảo của mình. Đồng thời các hoạt động khác liên quan đến Biển Đông cũng hết sức đa dạng, phong phú (tự do, an toàn hàng hải, chống tội phạm trên biển..) và gắn với lợi ích của nhiều quốc gia khác nhau (cả trong và ngoài khu vực).      b. Từ đó, một yêu cầu hết sức khách quan đặt ra cho tất cả các nước có hoạt động liên quan Biển Đông là phải tuân thủ luật chơi chung mà cộng đồng quốc tế, trong đó có các quốc gia ven Biển Đông, đã dày công xây dựng - Công ước Luật Biển năm 1982 của Liên hợp quốc. Khi vận dụng Công ước để thực thi chủ quyền và quyền chủ quyền đối với nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của mình như được quy định trong Công ước, quốc gia ven Biển Đông có nghĩa vụ tôn trọng chủ quyền và quyền chủ quyền của các nước khác ven Biển Đông đối với lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của họ. Đó là nghĩa vụ của quốc gia thành viên Liên hợp quốc. Đó là nghĩa vụ theo Công ước Luật Biển năm 1982. Đó là nghĩa vụ theo Công ước Vienna năm 1969 về Luật điều ước.     Sẽ là rất không công bằng và phi lý khi một quốc gia ven Biển Đông tùy tiện vẽ ra một đường yêu sách mơ hồ, trái với Công ước Luật Biển năm 1982, vi phạm các vùng biển của các quốc gia láng giềng, tạo ra “vùng tranh chấp”trong vùng biển của quốc gia láng giềng, để rồi đòi các quốc gia láng giềng bị nạn “gác tranh chấp, cùng khai thác” trên chính thềm lục địa của họ. Tương tự, việc một quốc gia ven Biển Đông tự ý quy định cấm đánh bắt cá trong vùng đặc quyền kinh tế của các quốc gia láng giềng khác cũng là việc làm trái với quy định của Công ước Luật Biển năm 1982. Cách hành xử như vậy, rõ ràng là những sự vi phạm cam kết quốc tế của một nước thành viên Liên hợp quốc theo Hiến chương của tổ chức này.      c. Sự tồn tại các tranh chấp chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cũng như tranh chấp về các vùng thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế chồng lấn là một thực tế khách quan. Việc giải quyết các tranh chấp này, đặc biệt là tranh chấp chủ quyền đối với hai quần đảo, là một công việc khó khăn, phức tạp, nhưng không phải là không thể giải quyết được.      Như đã nêu trên, giữa Việt Nam và Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia, Malaysia và Campuchia có các khu vực chồng lấn thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế ở Vịnh Bắc Bộ và Vịnh Thái Lan. Thời gian qua, căn cứ vào Công ước Luật Biển năm 1982 và với tinh thần hữu nghị, láng giềng, tôn trọng lợi ích chính đáng của nhau, Việt Nam đã phân định ranh giới các vùng biển với Thái Lan, ranh giới các vùng biển với Trung Quốc trong Vịnh Bắc Bộ và ranh giới thềm lục địa với Indonesia ở phía Nam Biển Đông. Các nước khác ven Biển Đông cũng đã giải quyết được một số tranh chấp trên biển với nhau bằng nỗ lực chung và trên cơ sở pháp luật quốc tế.      Gần đây nhất, tranh chấp về chủ quyền đối với một số đảo nhỏ giữa Malaysia và Singapore, giữa Indonesia và Malaysia cũng đã được giải quyết bằng các phán quyết của Tòa án quốc tế La Hay (ICJ).      Kinh nghiệm đó chỉ ra rằng các tranh chấp về chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cũng như các tranh chấp về các vùng biển chồng lấn giữa các nước ven Biển Đông sẽ được giải quyết ổn thỏa khi pháp luật quốc tế, trong đó có Công ước Luật Biển năm 1982, được tôn trọng và khi các biện pháp hòa bình giải quyết tranh chấp nêu trong Hiến chương Liên hợp quốc được áp dụng. Đe dọa vũ lực, đe dọa sử dụng vũ lực đã bị pháp luật quốc tế cấm. Đe dọa vũ lực, đe dọa sử dụng vũ lực sẽ không phải là cách thức đúng đắn để giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông.      d. Các tranh chấp liên quan đến Biển Đông dĩ nhiên là phức tạp. Con đường đi đến giải pháp cuối cùng cho các tranh chấp mà các bên liên quan đều chấp nhận được sẽ không bằng phẳng và còn dài. Thực tế đó đòi hỏi các bên tranh chấp ở Biển Đông tăng cường nhiều nỗ lực hơn nữa. Trong quá trình tìm kiếm giải pháp cơ bản lâu dài cho các tranh chấp, các bên cần tuân thủ các cam kết đã được nêu trong Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) ký giữa ASEAN và Trung Quốc năm 2002, đặc biệt là cam kết không có bất cứ hành động nào làm phức tạp thêm tình hình ở Biển Đông.      Các quốc gia thành viên ASEAN và Trung Quốc cũng cần tăng cường các nỗ lực, cùng nhau phấn đấu để xây dựng một văn kiện có tính pháp lý cao hơn, có tính ràng buộc cao hơn là Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông. Về hình thức văn kiện này có thể có thể dưới dạng một Hiệp ước, hoặc một Hiệp định, hoặc một Thỏa thuận, hoặc cũng có thể là một MOU giữa ASEAN và Trung Quốc được các đại diện có thẩm quyền của ASEAN và Trung Quốc ký, sau đó được các cơ quan có thẩm quyền của ASEAN và Trung Quốc phê duyệt.      Tôn trọng các nguyên tắc cơ bản (các nguyên tắc just cogent) của pháp luật quốc tế, tôn trọng Hiến chương Liên hợp quốc, tôn trọng các quy định của Công ước Luật Biển năm 1982, giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình, thực hiện đầy đủ các cam kết trong DOC, tiến tới xây dựng Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông, cùng chung sức theo hướng biến Biển Đông thành vùng biển hòa bình, hữu nghị và hợp tác chính là chìa khóa cho các vấn đề phức tạp ở Biển Đông hiện nay./.     PV (Vietnam+) </description>
   <link>http://dean165.vnweblogs.com/post/14795/294174</link>
      <pubDate>Tue, 26 Apr 2011 09:42:02 +0700</pubDate>   
  </item>
    <item>
   <title>B&amp;aacute;n đỉa sang Trung Quốc: Đừng v&amp;igrave; lợi &amp;iacute;ch trước mắt!</title>
   <description>      Nhiều tháng nay, khắp các tỉnh như Lào Cai, Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên… rộ lên “cơn sốt” đỉa. Đỉa được được mua với giá hời làm nông dân ra sức bắt và có ý định nuôi với số lượng lớn. Sự việc bắt nguồn từ thông tin thương lái Trung Quốc đang tích cực thu mua đỉa về làm thuốc. Thực tế, đỉa là một trong những loài gây hại, nếu không được kiểm soát về số lượng sẽ gây họa như ốc bươu vàng, rùa tai đỏ...    Câu chuyện buôn bán đỉa sang Trung Quốc kiếm bạc triệu đang khiến dư luận sửng sốt, còn các nhà khoa học, các chuyên gia cảnh báo rằng nếu phong trào này lan rộng, hậu quả sẽ khó lường.    Giới truyền thông Trung Quốc cho hay, thời điểm hiện tại ở nước này đỉa là mặt hàng có lợi nhuận cao nhất. Vào cuối năm 2009, giá đỉa là 280 tệ/kg, song vào đầu tháng 4.2010, người ta phải chi 500 tệ để mua, còn hiện tại giá khoảng 800 tệ/kg.     Theo tìm hiểu của NTNN hiện nay phía đối tác Trung Quốc liên tục thúc giục các thương lái Việt Nam cung cấp hàng, tuy nhiên theo những thương lái thu mua đỉa như chị Thuỷ (Hải Phòng), chị Thanh (Lào Cai), khó khăn là họ chưa đủ khả năng để có thể thu gom hàng và cung cấp ổn định cho đối tác Trung Quốc với số lượng từ 400-500kg đỉa khô mỗi lần.  Sau khi có thông tin đỉa được thu mua với giá trên 1 triệu đồng một kg, ở nhiều nơi thuộc các tỉnh phía Bắc và cả miền Trung, nông dân thi nhau đi bắt đỉa. Thậm chí nhiều người còn cho biết: “Nếu đỉa được mua với giá cao như vậy thì chúng tôi có thể lập trại nuôi đỉa, vì ngoài tự nhiên gần như là cạn kiệt rồi”. Anh Lê Anh Tuấn ở huyện Mộc Châu, Sơn La cho biết: anh làm giáo viên ở Trường THCS Liên Hoà. Ở quanh chỗ anh sống vẫn còn rất nhiều đỉa. Nay nghe được thông tin này, anh có ý tưởng vận động người dân bắt đỉa; khi bắt hết rồi thì sẽ nuôi để cung ứng.                 Dư luận chỉ nghe đồn đỉa thu mua làm thuốc chứ không biết rõ thực hư như thế nào. (Ảnh minh họa)            Khi được hỏi về khả năng nuôi đỉa để cung cấp cho thương lái và đại lý thu mua đỉa, nhiều người dân đăng ký cung cấp đỉa trên mạng đều khẳng định nếu bắt hết đỉa mà chưa đáp ứng được nhu cầu của thương lái thì họ sẽ chuyển sang nuôi đỉa vì đỉa dễ sống dễ nuôi và sinh sản nhanh.    Nông dân Phan Anh Cường ở huyện Quảng Trạch, Quảng Bình cho hay: “Ở quê tôi đỉa nhiều vô kể, nếu thương lái thu mua cần số lượng lớn và đảm bảo thu mua dài lâu chắc chúng tôi sẽ tính đến chuyện nuôi đỉa đem bán, mỗi kg đỉa giá 1,5 - 2 triệu đồng, tội gì chúng tôi không làm”.     Đứng trước nguy cơ người dân sẽ ồ ạt tổ chức nuôi đỉa để cung cấp cho Trung Quốc, Hội Động vật học Việt Nam cho rằng: Đỉa là loài rất dễ sinh sôi nảy nở trong mọi điều kiện trong khi đó tiêu diệt đỉa lại vô cùng khó khăn. Hội này cảnh báo, nếu vì thấy lợi trước mắt người dân sẽ thi nhau nuôi đỉa để bán, rồi khi thương lái không thu mua nữa, vậy xử lý như thế nào? Trường hợp xấu, nếu không kiểm soát được, một lượng lớn đỉa tràn ra môi trường tự nhiên thì lúc đó hậu hoạ sẽ không thể tính hết được.     Thực tế, hiện nay nhu cầu thu mua đỉa lớn hơn rất nhiều so với nguồn cung, do đó để cung cấp với số lượng lớn không loại trừ khả năng ng¬ười dân sẽ tổ chức nuôi đỉa.     Viện trưởng Viện Sinh Thái và Tài nguyên sinh vật (Viện KHCN VN) - PGS.TS Lê Xuân Cảnh cho hay: “Người dân hay làm theo phong trào, theo đám đông vì lợi ích kinh tế trước mắt, mà không nghĩ đến hậu quả phía sau. Nếu người dân nuôi đỉa tràn lan không kiểm soát sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến cân bằng môi trường sinh thái. Muốn tiêu huỷ đỉa cần phải ngâm cồn rồi đốt thì đỉa mới chết hẳn. Còn các phương pháp như chặt chỉ càng khiến loài này sinh sản nhanh hơn”.     Trong Đông Y đỉa được coi là bài thuốc tác dụng thông máu, tan vết bầm, sưng, giải máu ứ đọng...tuy nhiên, các loại thuốc có thành phần từ đỉa phải được làm rất cẩn thận vì chúng rất nguy hiểm nếu sơ suất, tự ý dùng bừa bãi sẽ gây những tác hại khôn lường. Nếu trong quá trình đốt đỉa không kỹ, khi người bệnh uống, tế bào còn sót lại sẽ sinh trưởng và lớn lên thành con đỉa ở trong người bệnh&quot;.  </description>
   <link>http://dean165.vnweblogs.com/post/14795/294037</link>
      <pubDate>Mon, 25 Apr 2011 16:07:26 +0700</pubDate>   
  </item>
    <item>
   <title>Ki&amp;ecirc;n tr&amp;igrave; xem x&amp;eacute;t, giải quyết thỏa đ&amp;aacute;ng vấn đề Biển Đ&amp;ocirc;ng</title>
   <description> Chiều 19/4, tại Trụ sở Ch&iacute;nh phủ, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đ&atilde; tiếp Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Trung Quốc Trương Ch&iacute; Qu&acirc;n, Trưởng đo&agrave;n đ&agrave;m ph&aacute;n cấp Ch&iacute;nh phủ Trung Quốc về bi&ecirc;n giới l&atilde;nh thổ đang c&oacute; chuyến c&ocirc;ng t&aacute;c tại Việt Nam. 
   
 Ảnh: Chinhphu.vn 
 Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đ&aacute;nh gi&aacute; cao kết quả thảo luận giữa Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Trương Ch&iacute; Qu&acirc;n v&agrave; Thứ trưởng Ngoại giao Việt Nam Hồ Xu&acirc;n Sơn, Trưởng đo&agrave;n đ&agrave;m ph&aacute;n bi&ecirc;n giới l&atilde;nh thổ của Việt Nam. 
  
 &nbsp; 
 Thủ tướng cho đ&acirc;y l&agrave; bước tiến mới, g&oacute;p phần t&iacute;ch cực v&agrave;o việc th&uacute;c đẩy quan hệ hợp t&aacute;c nhiều mặt giữa hai nước, đồng thời mong muốn hai b&ecirc;n sẽ t&iacute;ch cực triển khai tr&ecirc;n thực tế những kết quả đạt được trong thảo luận lần n&agrave;y. 
 Thủ tướng cho biết, Việt Nam vui mừng thấy quan hệ hợp t&aacute;c đối t&aacute;c chiến lược to&agrave;n diện Việt Nam &ndash; Trung Quốc ph&aacute;t triển hết sức mạnh mẽ, mang lại lợi &iacute;ch thiết thực cho cả hai b&ecirc;n. 
 Đảng v&agrave; Nh&agrave; nước Việt Nam lu&ocirc;n coi trọng v&agrave; sẽ nỗ lực hết m&igrave;nh c&ugrave;ng với ph&iacute;a Trung Quốc tiếp tục đưa quan hệ hợp t&aacute;c đối t&aacute;c chiến lược to&agrave;n diện&nbsp; Việt Nam &ndash; Trung Quốc ng&agrave;y c&agrave;ng đi v&agrave;o chiều s&acirc;u, thiết thực v&agrave; hiệu quả. 
 Trao đổi về vấn đề bi&ecirc;n giới l&atilde;nh thổ, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho rằng, việc giải quyết vấn đề về bi&ecirc;n giới tr&ecirc;n bộ giữa hai nước đ&atilde; đạt được những kết quả c&oacute; &yacute; nghĩa lớn. C&ocirc;ng việc chung đặt ra với đối với hai nước hiện nay l&agrave; cần đẩy mạnh trao đổi, đ&agrave;m ph&aacute;n để c&oacute; thể đi tới việc k&yacute; kết c&aacute;c hiệp định hợp t&aacute;c kinh tế, du lịch ở c&aacute;c điểm tr&ecirc;n to&agrave;n tuyến bi&ecirc;n giới. 
 Li&ecirc;n quan đến c&aacute;c vấn đề về Biển Đ&ocirc;ng, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho rằng, tr&ecirc;n cơ sở nhận thức chung của l&atilde;nh đạo cấp cao hai nước, tr&ecirc;n tinh thần &ldquo;vừa l&agrave; đồng ch&iacute;, vừa l&agrave; anh em&rdquo;, tr&ecirc;n cơ sở Tuy&ecirc;n bố về c&aacute;ch ứng xử của c&aacute;c b&ecirc;n ở Biển Đ&ocirc;ng (DOC) v&agrave; kinh nghiệm trong việc xem x&eacute;t, giải quyết vấn đề về bi&ecirc;n giới l&atilde;nh thổ tr&ecirc;n bộ, hai nước cần tiếp tục ki&ecirc;n tr&igrave; đ&agrave;m ph&aacute;n trong việc xem x&eacute;t, giải quyết thỏa đ&aacute;ng về vấn đề Biển Đ&ocirc;ng. 
 Theo Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, tr&ecirc;n thực tế, trong những năm qua, hai nước đ&atilde; t&iacute;ch cực hợp t&aacute;c trong giải quyết về vấn đề n&agrave;y. H&ograve;a b&igrave;nh, ổn định ở khu vực Biển Đ&ocirc;ng lu&ocirc;n được giữ vững, khoảng c&aacute;ch về những nhận thức c&ograve;n kh&aacute;c biệt đang dần được thu hẹp... 
 Thủ tướng b&agrave;y tỏ tin tưởng, tr&ecirc;n tinh thần đồng ch&iacute;, hai b&ecirc;n sẽ tiếp tục lắng nghe &yacute; kiến của nhau để từng bước đạt được những kết quả đ&agrave;m ph&aacute;n về vấn đề tr&ecirc;n biển. Trong bất kỳ ho&agrave;n cảnh n&agrave;o khi xem x&eacute;t, giải quyết vấn đề Biển Đ&ocirc;ng cũng kh&ocirc;ng l&agrave;m ảnh hưởng tới t&igrave;nh cảm hữu nghị Việt - Trung cũng như kh&ocirc;ng để kẻ xấu lợi dụng để k&iacute;ch động, chia rẽ quan hệ hợp t&aacute;c tốt đẹp giữa hai nước. 
 Tại buổi tiếp, Thứ trưởng Trương Ch&iacute; Qu&acirc;n đ&atilde; chuyển lời thăm hỏi v&agrave; lời ch&uacute;c tốt đẹp nhất của Thủ tướng Trung Quốc &Ocirc;n Gia Bảo tới Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. 
 Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Trương Ch&iacute; Qu&acirc;n cũng th&ocirc;ng b&aacute;o với Thủ tướng một số nội dung ch&iacute;nh trong cuộc thảo luận với Thứ trưởng Bộ Ngoại giao nước ta Hồ Xu&acirc;n Sơn, trong đ&oacute; c&oacute; những kết quả đạt được về việc hai nước sẽ tăng cường hợp t&aacute;c về kinh tế ở khu vực bi&ecirc;n giới, đồng thời c&ugrave;ng xem x&eacute;t những vấn đề c&ograve;n c&oacute; nhận thức kh&aacute;c biệt về Biển Đ&ocirc;ng. 
 Nhấn mạnh c&ocirc;ng t&aacute;c ph&acirc;n giới cắm mốc giữa Trung Quốc v&agrave; Việt Nam đ&atilde; đạt được kết quả tốt đẹp, Thứ trưởng Trương Ch&iacute; Qu&acirc;n cho rằng, vấn đề đặt ra đối với hai nước hiện nay l&agrave; việc xem x&eacute;t v&agrave; giải quyết những vấn đề c&ograve;n kh&aacute;c biệt về Biển Đ&ocirc;ng. 
 Thứ trưởng Trương Ch&iacute; Qu&acirc;n khẳng định sẽ tiếp tục c&ugrave;ng với ph&iacute;a Việt Nam trong việc xem x&eacute;t, giải quyết vấn đề Biển Đ&ocirc;ng để t&igrave;m ra những giải ph&aacute;p cơ bản, l&acirc;u d&agrave;i m&agrave; hai b&ecirc;n đều c&oacute; thể chấp nhận được khi xem, giải quyết về vấn đề n&agrave;y. 
 [Nguồn: Chinhphu.vn] </description>
   <link>http://dean165.vnweblogs.com/post/14795/293060</link>
      <pubDate>Wed, 20 Apr 2011 15:01:51 +0700</pubDate>   
  </item>
    <item>
   <title>Trung Quốc v&amp;agrave; vấn đề bi&amp;ecirc;n giới với c&amp;aacute;c l&amp;aacute;ng giềng</title>
   <description>  Việc hình thành biên giới với bất cứ quốc gia nào cũng là một quá trình lâu dài và đầy mâu thuẫn. Trung Quốc, tuy là nước lớn thứ ba thế giới, đang phát triển năng động và nhanh chóng, nhưng cũng không phải là ngoại lệ trong vấn đề này.     Từng trải qua nhiều thay đổi theo mỗi triều đại với những biến động trong và ngoài nước, Trung Quốc thường xuyên thay đổi đường biên giới của mình trên bản đồ. Giờ đây, những vấn đề rất tự nhiên đang xuất hiện: Quá trình hình thành đường biên giới liệu có kết thúc vào đầu thế kỷ 21? Thay đổi sẽ xảy ra ở khu vực nào?       Với Nga     Lịch sử hình thành biên giới Nga - Trung kéo dài suốt từ cuối thế kỷ 17 đến đầu thế kỷ 20. Hiện nay, đường biên giới này kéo dài gần 4.000 km. Trong suốt 4 thế kỷ qua, đã có hàng chục hiệp định và nghị định thư được ký kết, bắt đầu từ Hiệp định Nerchin ký năm 1869. Đặc điểm chính trị của việc hình thành đường biên giới Nga -Trung là nó được thiết lập không phải nhờ những cuộc chiến tranh quy mô lớn, mà là qua các cuộc đàm phán ngoại giao, trong đó cả hai bên đều giành thắng lợi và chịu thua thiệt ngang nhau.    Quan hệ thân thiện Nga - Trung bị tan vỡ vào thập kỷ 60-70 của thế kỷ 20, khi giữa Trung Quốc và Liên Xô, nảy sinh những bất đồng lớn. Cũng thời điểm đó, Bắc Kinh đòi 1.540 km2 đất thuộc lãnh thổ Nga mà dường như &quot;Sa hoàng đã cướp của Trung Quốc trong thế kỷ 19&quot;. Các nhà sử học Trung Quốc cố công đưa ra luận thuyết về &quot;những vùng đất bị mất&quot; và &quot;món nợ nào đó&quot; của Nga đối với Trung Quốc, mà âm hưởng của nó đến ngày nay vẫn còn thấy rộ lên trong các công trình nghiên cứu, các ấn phẩm phát hành rộng rãi và thậm chí cả trong sách giáo khoa phổ thông.    Công thức mà ông tổ cải cách Đặng Tiểu Bình của Trung Quốc đưa ra - &quot;khép lại quá khứ, mở ra tương lai&quot; - không chỉ là điểm mấu chốt để bình thường hóa quan hệ Liên Xô (từ tháng 8/1991 là Liên bang Nga) - Trung Quốc, mà còn giải quyết những vấn đề biên giới lãnh thổ. Hiệp định ngày 16/5/1991 về vùng biên giới phía đông và hiệp định ngày 3/9/1994 về vùng biên giới phía tây là bước khởi đầu cho việc giải quyết thực tế những tranh chấp lãnh thổ. Tuyến biên giới đã được phân định trong những năm 1991-1999, còn văn bản được ký kết năm 1999. Theo đó, hai bên chỉ chưa nhất trí với nhau về hai trong tổng số 22 khu vực.    Hiệp ước Nga - Trung ký ngày 16/7/2001 đã góp phần vào việc giải quyết vấn đề biên giới giữa hai nước. Nội dung của hiệp ước ghi rõ: &quot;Hai bên không còn đòi hỏi lãnh thổ của nhau&quot; và mong muốn tiếp tục đàm phán về &quot;những khu vực còn chưa nhất trí&quot;. Trong lúc chờ giải quyết vấn đề, hai bên phải tuân thủ nguyên trạng, tức là theo pháp lý của Nga.    Hiện nay, những vấn đề biên giới còn tồn tại là đảo Lớn ở khu vực Abagatuia trên sông Argun và các đảo Tarabarov cùng đảo Lớn Ussuriski trên sông Amur, ngoại vi Khabarovsk. Đặc điểm địa lý của vấn đề thứ nhất là sông Argun ở khu vực Abagatuia có hai dòng chảy bao lấy đảo Lớn từ bắc xuống nam. Quan điểm của Nga nêu trong văn bản năm 1911 là biên giới phải tính theo dòng chảy nam. Còn theo Bắc Kinh, dòng chảy nam là của sông Hailar bắt nguồn từ Trung Quốc, tạo thành hai nhánh và đổ vào sông Argun. Do vậy, đường biên giới cần phải tính theo dòng chảy bắc sông Argun và toàn bộ đảo Lớn phải thuộc lãnh thổ Trung Quốc.    Khó khăn của việc hoạch định khu vực thứ hai cũng do giải thích khác nhau xung quanh các nhánh và các đảo. Những đảo tranh chấp nằm ở khu vực sông Ussuri chảy vào sông Amur, ở phần trên tạo thành nhánh Kazakevich. Nước Nga, dựa trên cơ sở hiệp định bổ sung Bắc Kinh 1860, đòi phải tính biên giới từ sông Amur đến nhánh Kazakevich, lượn theo đảo Tarabarov và đảo Lớn Usuriski từ phía nam. Trung Quốc nhất trí rằng theo hiệp định, biên giới chạy như vậy, nhưng lại nêu lý do tiêu chuẩn của luật quốc tế hiện nay là tuyến biên giới phân định phải theo đường cắm tiêu chính của sông (khu vực nước để tàu bè đi qua). Vì tàu bè không thể đi lại theo nhánh Kazakevich nên đường cắm tiêu chính cần phải đi qua biên giới phía bắc của các đảo, mà trong trường hợp này cũng phù hợp với pháp lý của Trung Quốc. Tuy nhiên, khác với các đảo không có người ở khu vực Abagatuia trên sông Argun, những đảo này có người ở và do gần với Khabarovsk nên có vị trí chiến lược. Nga đã đưa ra đề nghị thỏa hiệp: Giải quyết vấn đề biên giới trên sông Argun theo giả thiết của Trung Quốc, song đổi lại, ở khu vực ngoại vi Khabarovsk sẽ tiến hành phân định theo đề nghị của Nga. Rất tiếc, Trung Quốc chưa chấp nhận phương án đó.    Nói về biên giới Nga - Trung, người ta không thể bỏ qua những vấn đề chung. Vì về nguyên tắc, những thỏa hiệp của Nga chỉ có thể có lý khi &quot;làn sóng mới đòi hỏi lãnh thổ&quot; của Trung Quốc đối với Nga được dập tắt, nhất là phải tính tới yếu tố Trung Quốc sẽ thay đổi lãnh đạo trong năm nay và ở nước này, vẫn còn những phần tử mang tư tưởng chống Nga, cùng nhiều nhân tố tiêu cực khác.           Bản đồ đường biên giới của Trung Quốc.    Về mặt lý thuyết, không thể loại trừ khả năng Trung Quốc có chính sách công khai đòi lại &quot;những phần đất đã bị mất&quot;. Đồng thời, xuất phát từ thực tiễn hiện nay, cả hôm nay, ngày mai và trong tương lai xa hơn nữa, Nga không thể để Trung Quốc trở thành kẻ thù hay là một quốc gia trung lập nằm sát biên giới mình. Hơn nữa, những nhượng bộ từ năm 1991-1999 là có cơ sở và đã thúc đẩy quan hệ Nga - Trung lên tầm đối tác chiến lược.     Với Mông Cổ     Năm 1960, trong chuyến thăm chính thức Mông Cổ, Thủ tướng Chu Ân Lai gợi ý phía Trung Quốc tiến hành giải quyết các vấn đề biên giới với Mông Cổ. Những cuộc đàm phán song phương đã bắt đầu ở Ulan Bator từ tháng 10-11/1962. Nhiều tranh chấp không chỉ được giải quyết mà đôi bên còn chuẩn bị xong văn bản hiệp định biên giới. Tháng 12/1962, Trung Quốc - Mông Cổ ký hiệp định biên giới. Theo đó, dù Trung Quốc chiếm được một phần lãnh thổ Mông Cổ, nhưng bộ phận lãnh thổ truyền thống (Ngoại Mông) vẫn được giữ nguyên. Hơn nữa, Mông Cổ còn được cắt cho một phần lãnh thổ ở sa mạc Gobi. Từ đó tới nay, hai nước không hề đòi hỏi lãnh thổ của nhau. Đến tháng 4/2002, Ủy ban biên giới chung Trung - Mông sẽ tiến hành kiểm tra đường biên giới dài 4.677 km của hai nước và chế độ xuất nhập cảnh mới sẽ được thi hành trên các cửa khẩu.     Với các nước Trung Á     Quá trình phân định biên giới giữa Trung Quốc với các nước Trung Á mới giành chủ quyền diễn ra khá sôi động. Hiệp định về phân định đường biên giới dài 1.700 km giữa Trung Quốc và Kazakhstan vừa được ký kết tháng 4/1994 thì đến tháng 9/1995 đã có hiệu lực. Hiệp định biên giới bổ sung giữa hai bên ký ngày 4/7/1998 đã phân định rõ những khu vực còn tranh chấp ở khu vực sông Sarychildy, các đèo Chagan-Obo và Baimurza. Kết quả là một phần được gán cho Trung Quốc, còn một phần chuyển cho Kazakhstan.    Tháng 12/1999, trong chuyến thăm Trung Quốc của Tổng thống Kazakhstan Nursultan Nazarbaev, hiệp định biên giới giữa hai bên đã được ký kết tại Bắc Kinh. Với diễn biến này, quá trình đàm phán thực tế đã kết thúc và biên giới đã có quy chế pháp lý. Tuy nhiên, một số vấn đề vẫn chưa được giải quyết. Đó là dự định tăng thêm việc lấy nước ở sông Irtysh cho công nghiệp và nông nghiệp ở tỉnh Tân Cương của Trung Quốc có thể sẽ gây hậu quả nghiêm trọng đối với môi trường và kinh tế của Kazakhstan.    Ngày 4/7/1996, Hiệp định biên giới Trung Quốc - Kyrgyzstan đã được chuẩn bị. Sau nhiều lần thảo luận về khu vực đỉnh núi Han-Tengri, hai bên thống nhất thỏa hiệp: chia đều cho cả hai bên. Hiệp định đã được Tổng thống Kyrgyzstan và Chủ tịch Trung Quốc ký tại Bishkev trong cuộc gặp gỡ nguyên thủ quốc gia 5 nước trong Nhóm Thượng Hải ngày 24-26/8/1999. Hiện nay, quá trình phân định và cắm mốc đang được tiến hành trên đường biên giới dài 900 km của hai nước.    Cộng hòa Tajikistan và Trung Quốc có đường biên giới dài hơn 500 km, chủ yếu chạy theo dãy Sarykolski núi Pamir. Các cuộc đàm phán về từng khu vực biên giới giữa hai nước vẫn chưa kết thúc, mặc dù Tổng thống Emomali Rakhmanov và Chủ tịch Giang Trạch Dân đã ký một hiệp định biên giới tháng 8/1999. Hai bên đạt được thỏa thuận về việc phân đường biên giới dọc theo đèo Karazac và dọc theo sông Markanc. Khu vực biên giới phức tạp và nhức nhối trên núi Pamir phía nam đèo Uz-Bel vẫn còn chưa được giải quyết. Việc các nước Nga, Trung Quốc, Kyrgystan, Kazakhstan và Tajikistan tham gia Tổ chức Hợp tác Thượng Hải có ý nghĩa rất lớn trong việc giải quyết tích cực các vấn đề biên giới.     Với Ấn Độ     Đối với Trung Quốc, việc giải quyết vấn đề đường biên giới dài 3.500 km với Ấn Độ vẫn là phức tạp nhất.    Giữa những năm 50, Trung Quốc cho công bố bản đồ địa lý, trong đó có một phần lãnh thổ của Ấn Độ cũng như của Sich Kim, Bhutan, Nepal và một số nước khác. Tình hình biên giới chỉ giảm bớt căng thẳng vào đầu thập kỷ 80-90. Trong cuộc gặp gỡ cấp cao ở Bắc Kinh ngày 7/9/1993, hai bên đã ký &quot;Hiệp định duy trì hòa bình và ổn định dọc theo biên giới đang kiểm soát thực tế&quot;. Đến tháng 11-12/1996, Ấn Độ và Trung Quốc ký hiệp định về các biện pháp tin cậy lẫn nhau trong lĩnh vực quân sự dọc theo đường biên, thực tế được coi như một hiệp định không tấn công lẫn nhau. Tuy nhiên, nếu xem xét quan hệ Trung - Ấn một cách tổng thể, thì trong cuộc tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc, Ấn Độ vẫn coi mình là nạn nhân và nhấn mạnh rằng Trung Quốc đã chiếm một phần lãnh thổ của Ấn Độ. Nhiều chính khách New Delhi hiểu rất rõ rằng trong tương lai, Bắc Kinh không bao giờ tự nguyện trao trả phần lãnh thổ mà Ấn Độ coi là của mình. Cho nên, tốt nhất vẫn là để nguyên trạng.     Với những láng giềng phía nam     Biển Đông đang là nơi không đơn giản với Trung Quốc. Quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa (mà nhiều bằng chứng lịch sử chứng minh thuộc chủ quyền của Việt Nam - TS) đang là đối tượng tranh chấp của nhiều nước. Còn Vịnh Bắc Bộ liên quan đến việc phân định biên giới trên biển giữa Trung Quốc và Việt Nam.    Các nước ở khu vực Biển Đông hiện chưa giải quyết được những tranh chấp xung quanh quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa (kéo dài từ Tây Nam tới Đông Bắc đến hơn 1.000 km với hàng trăm đảo nhỏ). Trung Quốc, Việt Nam, Philippines và Malaysia, mỗi nước đang kiểm soát một phần quần đảo gây tranh cãi này. Trung Quốc còn tranh chấp với Nhật Bản về hòn đảo Senkaku.    Những vấn đề biên giới trên bộ và trên biển chưa được phân định của Trung Quốc sẽ có tác động lâu dài đến quan hệ giữa Bắc Kinh với các nước láng giềng. Liệu đường biên giới giữa Trung Quốc với các nước láng giềng có thay đổi không? Với tình hình thực tế hiện nay của nước này - đường lối lãnh đạo ổn định, phát triển và tập trung giải quyết những vấn đề nội bộ - thì điều đó ít có khả năng xảy ra.    (Theo  Independent ) </description>
   <link>http://dean165.vnweblogs.com/post/14795/292608</link>
      <pubDate>Mon, 18 Apr 2011 07:54:59 +0700</pubDate>   
  </item>
    <item>
   <title>Gặp mặt đầu năm</title>
   <description> Ngày 19/3/2011 Lãnh sự quán Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Nam Ninh (Quảng Tây) đã tổ chức họp mặt cán bộ, học viên nhân dịp đầu năm. Tại cuộc gặp mặt lãnh đạo Lãnh sự quán đã bầy tỏ sự tin tưởng vào nỗ lực học tập, phát huy tinh thần đoàn kết, cầu thị của học viên, sinh viên Việt Nam, chúc tất cả học tập tốt để về phụng sự đất nước. Các học viên, sinh viên đã hứa cố gắng khắc phục khó khăn để học tốt, cũng như tăng cường sự đoàn kết, hiểu biết lẫn nhau giữa sinh viên Việt Nam và sinh viên Trung Quốc.        </description>
   <link>http://dean165.vnweblogs.com/post/14795/289856</link>
      <pubDate>Mon, 04 Apr 2011 14:02:58 +0700</pubDate>   
  </item>
    <item>
   <title>Biến động ch&amp;iacute;nh trị ở Bắc Phi v&amp;agrave; Trung Đ&amp;ocirc;ng: Nguy&amp;ecirc;n nh&amp;acirc;n, bản chất sự việc?</title>
   <description> Từ giữa tháng 12 năm 2010 đến nay, nhiều nước vùng Bắc Phi và Trung Đông (MENA) đã xẩy ra những biến động chính trị to lớn, sâu sắc. Theo dõi tình hình khu vực này, có thể tìm ra những căn nguyên bề nổi, mang tính chủ quan, nhưng không dễ thấy được căn nguyên sâu xa, mang tính khách quan, rất có thể, là nguyên nhân quan trọng, chủ yếu.             Dòng người biểu tình tại Libya     Như chúng ta đều biết (và sự việc có vẻ giản đơn): Ngày 17 tháng 1 năm 2011, Mô-ha-mét Bu-a-zi (Mohamed Bouazzi), công dân Tuy-ni-di 26 tuổi, do bị cảnh sát tịch thu gánh hàng rong, vì quá phẫn uất, đã tự thiêu. Hình ảnh đó được ghi lại bằng máy quay phim, bằng điện thoại di động, được tung lên các trang mạng xã hội Facebook, Twitter, YouTube… Ngay sau đó, nhiều cuộc biểu tình, bạo loạn liên tiếp nổ ra ở Sidi Bouzid và các tỉnh, thành phố khác của Tuy-ni-di (Tunisia). Qua các cuộc xô xát, trấn áp, phản kháng, đã có hàng chục người chết, hàng trăm người bị thương. Trước sức ép của phe đối lập và các lực lượng biểu tình, ngày 14/2, Tổng thống Ben Ali cùng gia đình trốn chạy khỏi Tuy-ni-di.     Biến động chính trị dữ dội ở Tuy-ni-di, được thế giới khoác cho một cái tên mỹ miều - “cuộc cách mạng hoa nhài”, nhanh chóng tác động, lây lan, xô đẩy nhiều nước khác ở Bắc Phi, Trung Đông. Ở An-giê-ri, trong các ngày từ 6 đến 8 tháng 1, biểu tình, bạo loạn cũng bùng phát ở trên 20 tỉnh, thành phố, đến nay, tình hình tuy có dịu xuống, nhưng trên 80 người đã thiệt mạng, hàng trăm người bị thương. Ở nước có hơn 80 triệu dân Ai Cập, bằng khẩu hiệu “Một ngày nổi dậy” đòi Tổng thống Hu-xni Mu-ba-rắc (Hosni Mubarak) từ chức truyền đi qua điện thoại di động, qua Facebook, qua báo chí và mạng internet, nhiều cuộc biểu tình, bạo động chính trị quy mô lớn, thu hút sự tham gia của hàng chục ngàn người đã nổ ra tại thủ đô Cai-rô, thành phố cảng Alechxandria, vùng kênh đào Xuy-ê (Suez)…Không thể có con đường nào khác, lúc 19h15 (GTM) ngày 11 tháng 2, Phó Tổng thống Ai Cập Ô-ma Su-lây-man phát biểu trên truyền hình tuyên bố Tổng thống Ai Cập Hu-xni Mu-ba-rắc “đã quyết định từ chức” (rất có thể là một cuộc đảo chính quân sự ?!), kết thúc 32 năm cầm quyền liên tục ở đất nước đông dân nhất thế giới Arập. Hội đồng tối cao của các lực lượng vũ trang Ai Cập (do Bộ trước Quốc phòng Mô-ha-met Hu-xây-in Tan-ta-uy đứng đầu) thay thế Tổng thống để điều hành đất nước.     Tình hình căng thẳng với nhiều cuộc biểu tình, bạo động chính trị cũng xẩy ra ở các nước lân cận như Li-bi, Y-ê-men, Ba-ren, Xu-đăng, I-ran, Cô-oét, Ô-man, Giooc-đa-ni, Gi-bu-ti…    Việc gì đang xẩy ra ở các nước MENA ? những nguyên nhân nào đưa đến biểu tình, bạo loạn ? Câu trả lời đang dần hé lộ: Thứ nhất, đó là các nguyên nhân nội tại, bắt nguồn từ việc các nước này lệ thuộc quá nhiều vào nước ngoài, cả về chính trị, kinh tế, quân sự, ngoại giao, nhất là sự lệ thuộc về kinh tế. Khi kinh tế toàn cầu suy giảm, nền tài chính, tiền tệ thế giới rơi vào khủng hoảng, chính các nước này bị tác động sớm và mạnh mẽ nhất. Thứ hai, là đường lối chính trị, là cách thức lãnh đạo, điều hành đất nước của nhà cầm quyền, nhất là của những người đứng đầu, sai lầm. Tình trạng độc đoán, chuyên quyền, gia đình trị, tham nhũng kéo dài, tạo nên sự bất bình ngày càng gia tăng của các giai tầng trong xã hội. Khi các đảng phái đối lập, các nhóm Hồi giáo cực đoan trỗi dậy, nêu chiêu bài “dân chủ”, “chống tham nhũng”, “chống độc quyền, gia đình trị”…, rất dễ tranh thủ sự ủng hộ, đi theo của người dân. Thứ ba, là tình trạng đói nghèo, thất nghiệp, mù chữ, tội phạm và tệ nạn xã hội gia tăng, khoảng cách giàu nghèo ngày càng bị khoét sâu, tạo nên mâu thuẫn xã hội sâu sắc. Từ ba nguyên nhân trên, dẫn đến nguyên nhân thứ tư là, nhà cầm quyền không nhận được sự trung thành, ủng hộ thật lòng của quân đội và lực lượng cảnh sát, khi xẩy ra nguy biến, rốt cuộc, các lực lượng này phản ứng yếu ớt, thậm chí buông xuôi. Có thể có thêm một vài nguyên nhân nội tại khác nữa. Tuy nhiên, có những nguyên nhân từ bên ngoài (mà không nên gọi là khách quan), về thực chất, đã nhúng tay, lúc thô bạo, lúc tinh vi, xảo quyệt. Xin ngược dòng thời gian và nhớ lại.    Tháng 6 năm 2004, chính quyền G. Bush đã vạch ra chiến lược Đại Trung Đông nhằm “thúc đẩy dân chủ” ở các nước A-rập. Tháng 3 năm 2005, Quốc hội Mỹ thông qua bộ luật Thúc đẩy dân chủ ở các nước A-rập, trong đó có điều khoản yêu cầu Bộ Ngoại giao nước này thành lập các trang website, mạng xã hội để liên kết, hỗ trợ “các phong trào dân chủ”; tài trợ tiền bạc cho các tổ chức phi chính phủ (NGO) thuộc khối A-rập…Mạng xã hội Twitter ra đời từ chính sách đó, và đã thể hiện rất rõ sự lợi hại trong thời gian vừa qua. Mỹ cũng cho lập Quỹ quốc gia hỗ trợ dân chủ (NED), Ngôi nhà tự do (FH), tài trợ cho hơn 1000 NGO ở hơn 90 quốc gia trên thế giới, trong đó có 33 NGO ở Ai Cập. Tổ chức USAID của Mỹ hàng năm tài trợ trên 70 triệu USD cho các “hoạt động xã hội dân sự” tại Ai Cập… Tháng 8 năm 2010, Tổng thống Mỹ O. Ô-ba-ma lệnh cho các cố vấn an ninh soạn thảo một báo cáo mật, trong đó chỉ rõ những nơi nào trong thế giới A-rập có khả năng xẩy ra biến động, bạo động chính trị. Trước đó, ngày 4 tháng 6 năm 2009, trong một bài phát biểu tại Cai-rô, khi mà quan hệ giữa Mỹ và chính quyền Ai Cập đang khá mặn nồng (ít nhất là bề ngoài), Tổng thống Mỹ O.Ô-ba-ma đa đưa ra thông điệp mà sau này, buộc nhiều người phải ngẫm ngợi: “Tôi có một niềm tin chắc chắn rằng, tất cả mọi người đều khao khát có thể phát biểu suy nghĩ của mình, cũng như đóng góp ý kiến về cách thức được cai trị; lòng tin vào quyền lực của luật pháp và sự thực thi công lý bình đẳng; một chính phủ minh bạch và không tham nhũng của dân; được tự do sống theo ý mình”. Trước khi ông H. Mu-ba-rắc buộc phải ra đi 11 ngày, trả lời phỏng vấn báo chí về tình hình Ai Cập, Ngoại trưởng Mỹ H. Clinton kêu gọi Ai Cập cần “chuyển tiếp trong trật tự”.    Có cùng quan điểm với Mỹ, nói đúng hơn là đi theo Mỹ trong vấn đề Ai Cập, Bắc Phi, Trung Đông, còn có nhiều nhân vật, tổ chức, quốc gia ở khu vực này và phương Tây lộ diện dần trong màn khói hư ảo. Rõ nhất là lãnh tụ phe đối lập, ông Mô-ha-met En Ba-ra-đây (Mohamed El Baradei) - nguyên Giám đốc Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế, người Ai Cập. Ông này đã thốt lên: “quốc gia tự do”, “cuộc sống đã bắt đầu trở lại” với tất cả người dân Ai Cập. Tổ chức Anh em Hồi giáo cũng hoan nghênh “quân đội đã giữ cam kết” cho cuộc đấu tranh của người dân Ai Cập. Chính phủ các nước Mỹ, Anh, Pháp, Đức và EU cho rằng đây là “thời khắc lịch sử”. Ở Ai Cập và cả khối MENA, người ta đang rất quan tâm tới một nhân vật mang mật danh ElShaheed, tiếng A-rập có nghĩa là “tử vì đạo”, người đóng vai trò chính trong việc kích động giới trẻ Ai Cập thông qua mạng Facebook. Nhiều người đã nhắc đến các mạng xã hội như Twitter, Facebook, WikiLeaks, YouTube và vai trò của báo chí, truyền thông…như là những tội đồ. Cần chỉ rõ rằng, những kẻ làm đất, đổ ải, gieo hạt để có “vụ gặt” bội thu vừa qua, công đầu là Mỹ, nhiều nước phương Tây, các thế lực đầu cơ chính trị bản địa. Các mạng xã hội, phương tiện truyền thông, báo chí… thuần túy chỉ là công cụ - những công cụ đắc lực, sắc lẻm, lạnh lùng trong tay kẻ chủ mưu, kẻ sử dụng. Đài BBC, trong bài viết gần đây tựa đề “Cách mạng: I-ran - Thiên An Môn - Ai Cập”, nêu ra những “kinh nghiệm” để làm “cách mạng”: kích động quần chúng gây rối, bạo loạn; triệt để lợi dụng các sự cố, tai nạn, những cái chết để tạo cớ; sử dụng mạng xã hội, báo chí, truyền thông để kích động, liên kết trong ngoài…Ngày 15 tháng 2 năm 2011, phát biểu tại trường đại học G. Oa-sinh-ton, Ngoại trương Mỹ, bà H. Clinton lại lên tiếng chỉ trích, xuyên tạc Trung Quốc, Việt Nam, Cu Ba, I-ran, My-an-ma, Sy-ri…“vi phạm tự do Internet”; thông báo Bộ Ngoại giao Mỹ sẽ tiếp tục tung ra các trang mạng xã hội Twitter bằng các thứ tiếng Trung Quốc, Nga, Ấn Độ (sau khi đã thực hiện rất hiệu quả các trang mạng xã hội này bằng tiếng A-rập, Farsi). Năm 2011, Mỹ sẽ chi ít nhất 25 triệu USD để “bảo vệ” các bloger đang bị ngăn cản, “cải thiện môi trường pháp lý” cho hoạt động truyền thông.     Biến động chính trị tại Bắc Phi, Trung Đông, đặc biệt là ở Ai Cập, Tuy-ni-di, đã và đang được nhìn nhận, đánh giá một cách bình tĩnh, đầy đủ, công bằng và khách quan hơn. Khi đi vào vấn đề này, rất cần có cái nhìn toàn diện, đi vào chiều sâu, vào bản chất sự việc, vừa không xem nhẹ nguyên nhân bên trong, càng không được xem nhẹ các nhân tố bên ngoài. Đó là bài học cảnh tỉnh, cảnh giác cho nhiều quốc gia, dân tộc trên thế giới. Đó cũng là cách tiếp cận cần thiết để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta nỗ lực phấn đấu; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới; xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; phát triển kinh tế nhanh và bền vững; nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; giữ vững ổn định chính trị - xã hội; đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn “Diễn biến hòa bình” của các thế lực phản động, thù địch; thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, tất cả vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./.    TS.  Nguyễn Thế Kỷ  (Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương)     [Nguồn:  http://www.tinhuygialai.org.vn ) </description>
   <link>http://dean165.vnweblogs.com/post/14795/281785</link>
      <pubDate>Tue, 22 Feb 2011 09:48:55 +0700</pubDate>   
  </item>
    <item>
   <title>Ai đứng đằng sau c&amp;aacute;c cuộc bạo động ch&amp;iacute;nh trị ở Ai Cập</title>
   <description>     Cuộc bạo động chính trị dẫn tới hành động đảo chính nhà nước ở Tuy-ni-di, hay còn được gọi là “cuộc cách mạng hoa nhài”, diễn ra trong những ngày cuối cùng của thập niên đầu thế kỷ XXI tại một trong những quốc gia phát triển thịnh vượng nhất ở Bắc Phi, dường như là “sự kiện châm ngòi” cho các vụ bạo động chính trị, hoặc các cuộc “cách mạng nhung” đầy kịch tính ở Ai Cập, đang âm ỉ nhen nhóm ở Y-ê-men, Gioóc-đa-ni, Xi-ri và có thể bùng phát ở nhiều quốc gia khác ở châu Phi.                  Hàng nghìn người đổ về quảng trường Tahrir ở trung tâm thủ đô Cairo, biểu tình đòi Tổng thống Hosni Mubarak từ chức. (Ảnh: AFP/TTXVN)      Một câu hỏi lớn đặt ra ở đây là, liệu có phải các cuộc bạo động chính trị đó là hiện tượng mang tính quy luật, hay do các thế lực nào giật dây và đạo diễn nhằm mưu cầu những lợi ích riêng?       Vẫn là kịch bản “cách mạng nhung” quen thuộc     Để trả lời câu hỏi này, ông Uy-li-am Ăng-đan (F. William Engdahl), nhà nghiên cứu chính trị, lịch sử và kinh tế Mỹ, tác giả cuốn sách mang tựa đề “Chiến lược giành ưu thế toàn diện hay là nền dân chủ bá quyền trong trật tự thế giới mới” (“Full Spectrum Dominance: Totalitarian Democracy in the New World Order”, Nhà xuất bản Wiesbaden, Cộng hòa Liên bang Đức, năm 2009), có bài viết đăng trên báo điện tử “Chiến tranh và hòa bình” (Uy-li-am Ăng-đan - “Cuộc cách mạng ở Ai-cập phải chăng là sự tàn phá cái cũ để xây dựng Trung Đông Lớn?” đăng trên http://www.warandpeace.ru/ru/exclusive/vprint/55198/), đã chứng minh rằng, các cuộc “cách mạng nhung” đầy kịch tính ở nhiều nước châu Phi, đặc biệt là ở Ai Cập hiện nay, đều do các tổ chức phi chính phủ ở Mỹ đạo diễn và tài trợ, để thực hiện kế hoạch “bình định” toàn bộ khu vực Trung Đông nhằm tranh giành tài nguyên và thị trường với các đối thủ cạnh tranh là Trung Quốc, Nga, EU và nhiều nước khác.    Theo Uy-li-am Ăng-đan, nhìn bề ngoài, có vẻ như các cuộc “cách mạng nhung” đó diễn ra một cách tự nhiên, xuất phát từ cùng một nguyên nhân là khủng hoảng kinh tế - xã hội; nạn thất nghiệp gia tăng; sự bất bình đẳng trong xã hội; khoảng cách giữa người giàu và người nghèo ngày một lớn; chính quyền ở các nước đó bảo thủ và trì trệ trong nhiều năm... Tuy nhiên, khi phân tích kỹ dựa trên các cứ liệu lịch sử và xâu chuỗi các sự kiện diễn ra trong suốt nhiều thập kỷ thì nhận thấy, công thức chung cho các cuộc “cách mạng” đó đã được Lầu Năm Góc, các cơ quan tình báo, các viện nghiên cứu chiến lược, các tổ chức phi chính phủ của Mỹ và nhiều nước phương Tây nghiên cứu hoạch định và áp dụng từ trước đây rất lâu. Mà khởi đầu là từ năm 1968 trong các sự kiện nhằm gây bất ổn chính trị ở nước Pháp dưới thời cầm quyền của Tổng thống Pháp Đờ-gôn - một người không chịu nghe theo sự chỉ bảo của Mỹ. Các chuyên gia nghiên cứu chiến lược chính trị gọi đó là “công nghệ ong vỡ tổ”.    Kể từ các cuộc bạo động chính trị ở Pháp năm 1968, Oa-sinh-tơn đã sử dụng “công nghệ ong vỡ tổ” để đạo diễn hàng loạt vụ bạo động chính trị nhằm thay đổi chính phủ cầm quyền ở nhiều nước Đông Âu và các khu vực khác trên thế giới, mà gần đây nhất là các cuộc “cách mạng nhung” ở Nam Tư, Gru-di-a, U-crai-na, Cư-rơ-gư-dơ-xtan, I-ran v.v.     Do đâu Mỹ bỏ rơi đồng minh chiến lược ở Trung Đông?     Ngày 11-2-2011, trước sức ép ngày càng tăng của phong trào phản kháng cũng như sự hối thúc quyết liệt của Mỹ và một số nước phương Tây, Tổng thống Ai Cập Hô-xni Mu-ba-rắc đã phải quyết định từ chức và trao lại quyền điều hành đất nước cho giới quân sự.    Một trong những câu hỏi đặt ra trước dư luận quốc tế cũng như giới phân tích là thái độ khá bất ngờ và không thông thường của Oa-sinh-tơn đối với các biến cố ở Ai Cập và bản thân Tổng thống Hô-xni Mu-ba-rắc. Trong một thời gian khá dài, Tổng thống Hô-xni Mu-ba-rắc là một trong những đồng minh và đối tác tin cậy nhất, then chốt nhất của Mỹ và các nước phương Tây ở Trung Đông. Ai Cập đã từng hợp tác rất chặt chẽ với I-xra-en-một đồng minh chiến lược của Mỹ và đã từng đóng vai trò trung gian để thực hiện các kịch bản của Oa-sinh-tơn ở khu vực này.    Thế nhưng, trong diễn biến các sự kiện vừa qua ở Ai Cập, Tổng thống Mỹ Ba-rắc Ô-ba-ma và một số quan chức cấp cao trong chính phủ Mỹ liên tiếp đưa ra những tuyên bố nhằm hối thúc Tổng thống Hô-xni Mu-ba-rắc từ chức ngay lập tức. Trợ lý của Tổng thống Mỹ Ba-rắc Ô-ba-ma, ông Mác-phôn, đã từng tuyên bố: “Một mặt, Mỹ tiếp tục giữ quan hệ nhà nước với Ai Cập, mặt khác vẫn ủng hộ phong trào phản kháng tại đây”. Trên thực tế, Oa-sinh-tơn đã bỏ rơi Tổng thống Hô-xni Mu-ba-rắc. Do đâu có tình hình đó?    Theo giới phân tích chính trị quốc tế, dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào ở Trung Đông, Oa-sinh-tơn vẫn phải xuất phát từ các lợi ích địa - chính trị. Có thể thấy, thời gian đầu sau khi Liên Xô tan rã, Mỹ trở thành quốc gia chiếm ưu thế gần như tuyệt đối ở Trung Đông. Họ đã đơn phương phát động chiến tranh ở I-rắc, được phép của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc tiến hành chiến tranh ở Áp-ga-ni-xtan, liên tục đưa ra các giải pháp gây sức ép đối với I-ran. Tuy nhiên, thời gian gần đây, tình hình thực tế diễn biến bất lợi đối với Mỹ, trong đó Oa-sinh-tơn đứng trước nguy cơ mất dần ảnh hưởng và mất quyền kiểm soát ở Trung Đông. Tiến trình “Mỹ hóa I-rắc” và “Mỹ hóa Áp-ga-ni-xtan” rơi vào bế tắc, khả năng Mỹ sử dụng sức mạnh quân sự để giải quyết “hồ sơ hạt nhân” của I-ran đã bị “xếp xó”, đồng thời Mỹ cũng đã hoàn toàn thất bại trong vai trò trung gian hòa giải để dàn xếp tiến trình hòa bình giữa I-xra-en và Pa-le-xtin.    Trong bối cảnh đó, ngay trong Bộ Ngoại giao Mỹ cũng như trong giới quyền lực khác ở Oa-sinh-tơn đã hình thành hai loại ý kiến khác nhau. Một loại ý kiến cho rằng, Mỹ nên giữ nguyên hiện trạng. Còn loại ý kiến khác đưa ra là cho dù có hiện diện quân sự ở Trung Đông, Mỹ vẫn không thể “bình định” được khu vực này và đặt nó dưới tầm ảnh hưởng toàn diện của mình. Do đó, Mỹ nên có các biện pháp chiến lược dung hòa với các lực lượng hồi giáo ôn hòa, thậm chí mở đường cho họ tham gia bộ máy cầm quyền ở một số nước trong khu vực nhằm ngăn chặn làn sóng chủ nghĩa hồi giáo cực đoan. Ở Ai Cập, đại diện điển hình cho lực lượng hồi giáo ôn hòa là tổ chức “Những người Hồi giáo anh em”. Chính tổ chức này là một thành phần quan trọng tham gia các cuộc biểu tình, chống Tổng thống Hô-xni Mu-ba-rắc ở Ai Cập vừa qua.    Vì thế, theo Uy-li-am Ăng-đan, cuộc “cách mạng” hiện nay ở Ai Cập xuất phát từ chủ trương của Oa-sinh-tơn muốn lật đổ Tổng thống Hô-xni Mu-ba-rắc, một người trong thời gian gần đây đã trở thành vật cản trên con đường Mỹ thực hiện chiến lược “bình định” trên toàn bộ khu vực được họ gọi là Trung Đông Lớn. Quan hệ giữa Tổng thống Mỹ Ba-rắc Ô-ba-ma và Tổng thống Hô-xni Mu-ba-rắc đã từng bị đóng băng do Cai-rô và Oa-sinh-tơn mâu thuẫn trong cách giải quyết vấn đề hạt nhân của I-ran nói riêng và chính sách của Tổng thống Mỹ Ba-rắc Ô-ba-ma đối với toàn bộ khu vực Trung Đông nói chung. Chính vào thời điểm bùng phát các cuộc bạo động trên đường phố ở Cai-rô đòi Tổng thống Hô-xni Mu-ba-rắc từ chức, Tổng tham mưu trưởng quân đội Ai Cập, trung tướng Xa-mi Ha-phét, được Lầu Năm Góc mời sang thăm Mỹ nhằm vô hiệu hóa sự hỗ trợ của quân đội trong việc ủng hộ Tổng thống Hô-xni Mu-ba-rắc dẹp loạn.     Cuộc “cách mạng” ở Ai Cập     Dựa trên các cứ liệu xác thực, Uy-li-am Ăng-đan chứng minh rằng, cuộc bạo động chính trị ở Ai Cập diễn ra theo đúng kịch bản các cuộc “cách mạng nhung”, hay còn gọi là “cách mạng bằng sức mạnh mềm” đã từng diễn ra ở Gru-di-a và U-crai-na. Ở Ai Cập, lực lượng tiến hành “cách mạng” bao gồm đông đảo thanh niên sử dụng các phương tiện công nghệ thông tin và mạng Internet có quan hệ gắn bó với ông Mô-ha-mét En Ba-ra-đây, nguyên Giám đốc Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế, và nhóm giáo phái mang tên “Những người Hồi giáo anh em” đã từng có nhiều năm “ăn nằm” với các cơ quan tình báo Mỹ và Anh.    Lời kêu gọi tổng bãi công trên toàn lãnh thổ Ai Cập và tổ chức “Ngày nổi giận” hôm 25-1-2011 đòi Tổng thống Hô-xni Mu-ba-rắc từ chức được phát đi từ “chỉ huy sở” đặt trên mạng xã hội Facebook và được mang tên là “Phong trào ngày 6 tháng 4” do Át-mét Ma-hơ I-bra-him, kỹ sư xây dựng 29 tuổi, đứng đầu. Trước đó, vào ngày 6-4-2008, chính Át-mét Ma-hơ I-bra-him đã sử dụng mạng xã hội Facebook ra lời kêu gọi công nhân bãi công chống chính phủ của Tổng thống Hô-xni Mu-ba-rắc.    Theo tính toán của “Thời báo Mỹ” (New York Times), từ năm 2009 đã có khoảng 800.000 người Ai Cập, đa số là thanh niên, sử dụng hai mạng xã hội lớn nhất là Facebook và Twitter. Trả lời phỏng vấn ở Oa-sinh-tơn, Át-mét Ma-hơ I-bra-him tuyên bố: “Là phong trào thanh niên ở Ai Cập sử dụng mạng xã hội trên Internet, như Facebook và Twitter, chúng tôi sẽ thúc đẩy quá trình dân chủ bằng cách khuyến khích cộng đồng tham gia các quá trình chính trị”.    Cũng trong năm 2009, Át-mét Ma-hơ I-bra-him cho biết, “Phong trào ngày 6 tháng 4” nhận được sự ủng hộ của ông Mô-ha-mét En Ba-ra-đây, Giám đốc Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế; ông Gioóc-giơ Ít-hắc-cơ, thủ lĩnh tổ chức mang tên “Phong trào vì sự thay đổi ở Ai Cập”, và chủ tịch phong trào “Những người Hồi giáo anh em”. Lúc này, “Phong trào vì sự thay đổi ở Ai Cập” và tổ chức “Những người Hồi giáo anh em” là lực lượng chủ chốt và đóng vai trò trung tâm trong cuộc “cách mạng nhung” ở Ai Cập. Theo nhận định của giới phân tích, ông Mô-ha-mét En Ba-ra-đây là nhân vật trung tâm trong các diễn biến dân chủ mang tính chất nghị viện ở Ai Cập trong thời gian tới. Căn cứ vào dư luận ở Mỹ, ông Mô-ha-mét En Ba-ra-đây nhận được sự ủng hộ của các tướng lĩnh quân đội và nhiều quan chức có ảnh hưởng lớn ở Oa-sinh-tơn.    Một động thái rất đáng chú ý là “Phong trào vì sự thay đổi ở Ai Cập có tên gọi bằng tiếng A-rập là “Ke-phai-ơ”, có nghĩa là “Đã đến lúc phải chấm dứt”, hoàn toàn trùng hợp với tên gọi “Cơ-ma-ra” bằng tiếng Gru-di-a để chỉ phong trào thanh niên “cách mạng nhung” cũng có cùng một nghĩa như thế. Nói cách khác, khẩu hiệu “cách mạng nhung” ở Ai Cập và ở Gru-di-a là giống nhau, đều kêu gọi chấm dứt chế độ cầm quyền hiện tại là đòi tổng thống đương quyền phải ra đi.    Một thực tế rất đáng chú ý là các lực lượng tham gia phong trào “Ke-phai-ơ” ở Ai Cập, cũng như phong trào thanh niên “Cơ-ma-ra” ở Gru-di-a, đều do “Quỹ quốc gia ủng hộ dân chủ” và “Viện An-be Anh-xtanh” là các tổ chức phi chính phủ ở Mỹ tài trợ và huấn luyện. Trong các cuộc mít tinh chống chính phủ ở Ai Cập vào tháng 12-2009, “Phong trào vì sự thay đổi ở Ai Cập” cũng đã từng ra tuyên bố ủng hộ ông Mô-ha-mét En Ba-ra-đây ra ứng cử Tổng thống Ai Cập trong các cuộc bầu cử sẽ được tổ chức vào năm 2011.    “Phong trào vì sự thay đổi ở Ai Cập” được thành lập năm 2008 theo sáng kiến chiến lược của Ban an ninh quốc gia thuộc Công ty RAND của Mỹ do Cục công nghệ phản ứng nhanh của Lầu Năm Góc tài trợ. Sáng kiến này nhằm sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng, các lực lượng thanh niên cực đoan và lôi kéo các tầng lớp dân chúng bất bình với chính phủ để tiến hành “cách mạng nhung”. Tháng 5-2009, trước khi Tổng thống Mỹ Ba-rắc Ô-ba-ma có chuyến thăm Ai Cập, Ngoại trưởng Mỹ Hi-la-ri Clin-tơn và Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ phụ trách khu vực Trung Đông, ông Giơ-phe-ri Phen-man, đã tổ chức cuộc gặp các thành viên tích cực nhất thuộc các “phòng trào cách mạng” ở Ai Cập do tổ chức phi chính phủ mang tên “Ngôi nhà tự do” của Mỹ tài trợ trong khuôn khổ chương trình mang tên “Thế hệ mới”. Tổ chức này là một trong các tổ chức phi chính phủ đã từng đạo diễn các cuộc “cách mạng nhung” ở U-crai-na, Gru-di-a và nhiều cuộc “cách mạng sắc màu” khác.    Như vậy, theo Uy-li-am Ăng-đan, các tổ chức phi chính phủ của Mỹ như “Ngôi nhà tự do”, “Quỹ quốc gia hỗ trợ dân chủ”, “Viện quốc gia nghiên cứu quốc tế của Đảng Cộng hòa”, “Viện quốc gia nghiên cứu quốc tế của Đảng Dân chủ”... là những tổ chức chuẩn bị và đứng đằng sau các cuộc “cách mạng nhung” trước đây ở một số nước, cũng như các cuộc bạo động chính trị hiện nay ở Tuy-ni-di, Ai Cập và nhiều nước châu Phi khác.    Lúc này, sự kiện Ai Cập đã tạo ra thêm một tiền lệ, khiến chính quyền ở các nước có định hướng thân Mỹ và thân phương Tây có thể mất dần niềm tin vào Oa-sinh-tơn. Họ sợ rằng, để bảo vệ các lợi ích địa - chính trị trên toàn cầu, đến một lúc nào đó, Mỹ sẽ bỏ rơi họ trong những tình huống tương tự như ở Ai Cập./.    [Nguồn:  http://www.tinhuygialai.org.vn/index.php?option=com_content&amp;view=article&amp;id=339:ai-ng-ng-sau-cac-cuc-bo-ng-chinh-tr--ai-cp-&amp;catid=thi-s-quc-t ] </description>
   <link>http://dean165.vnweblogs.com/post/14795/280538</link>
      <pubDate>Tue, 15 Feb 2011 09:46:41 +0700</pubDate>   
  </item>
    <item>
   <title>Ban h&amp;agrave;nh trang th&amp;ocirc;ng tin điện tử Đảng bộ tỉnh Gia Lai</title>
   <description>  Ngày 04 tháng 01 năm 2011 Tỉnh ủy Gia Lai đã ban hành Quyết định số 104-QĐ/TU về việc ban hành trang thông tin điện tử Đảng bộ tỉnh (website) với tên miền hoạt động trên hạ tầng internet:  www.tinhuygialai.org.vn .      Website này hoạt động trên mạng diện rộng cơ quan Đảng thông qua hệ thống truyền thông tại Trung tâm Công nghệ thông tin Văn phòng Tỉnh ủy và được kết nối trên hạ tầng internet. Các cơ quan, đơn vị, cá nhân đều có quyền truy cập khai thác thông tin trên website thông qua địa chỉ trên. Ngoài ra, toàn bộ việc điều hành trang thông tin điện tử của Đảng bộ tỉnh như: đảm bảo hạ tầng kỹ thuật phục vụ hoạt động của website, đảm bảo an toàn thông tin, nội dung của website cũng như thành lập Ban biên tập, xây dựng quy chế hoạt động và lập dự toán kinh phí hàng năm đều do Văn phòng Tỉnh ủy tỉnh Gia Lai quản lý.     XP       [Nguồn:  http://www.tinhuygialai.org.vn/index.php?option=com_content&amp;view=article&amp;id=319:-ban-hanh-trang-thong-tin-in-t-ng-b-tnh-gia-lai&amp;catid=cong-ngh-thong-tin&amp;Itemid=235 ] </description>
   <link>http://dean165.vnweblogs.com/post/14795/279703</link>
      <pubDate>Thu, 10 Feb 2011 15:18:50 +0700</pubDate>   
  </item>
    <item>
   <title>Tiểu sử t&amp;oacute;m tắt Tổng B&amp;iacute; thư Đảng Cộng sản Việt Nam kh&amp;oacute;a XI</title>
   <description>  Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam NGUYỄN PHÚ TRỌNG                Họ và tên khai sinh : Nguyễn Phú Trọng.      Giới tính : Nam.      Họ và tên thường gọi : Nguyễn Phú Trọng.      Sinh ngày : 14-4-1944      Quê quán : Xã Đông Hội, huyện Đông Anh, Tp Hà Nội.      Nơi cư trú : Số 5 phố Thiền Quang, phường Nguyễn Du, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.      Dân tộc : Kinh&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;  Tôn giáo : Không      Trình độ học vấn : Giáo sư, Tiến sĩ       Trình độ chuyên môn : Giáo sư, Tiến sĩ Chính trị học (chuyên ngành Xây dựng Đảng); Cử nhân Văn -Đại học Tổng hợp.      Nghề nghiệp, chức vụ : Uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư Đảng Đoàn Quốc hội,Chủ tịch Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Ủy viên Hội đồng Quốc phòng và An ninh.      Nơi làm việc : Văn phòng Quốc hội, 37 Hùng Vương, quận Ba Đình, Hà Nội.      Ngày vào Đảng : 19-12-1967.      Ngày chính thức : 19-12-1968.      Tình trạng sức khỏe : Bình thường.      Khen thưởng : Được tặng thưởng nhiều Huy chương và Bằng khen.      Kỷ luật : Không.      Là đại biểu Quốc hội:  Khóa XI, XII      Đại biểu Hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2004-2011 : Không     Tóm tắt quá trình công tác      Từ 1963 đến 1967 : Học khoa Ngữ văn trường Đại học Tổng hợp Hà Nội.     Từ tháng 12/1967 đến 8/1973 : Cán bộ biên tập Tạp chí Cộng sản; năm 1971 đi thực tế ở Thanh Oai, Hà Tây.     Từ tháng 9/1973 đến 4/1976 : Nghiên cứu sinh khoa Kinh tế chính trị tại trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc (nay là Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh), Chi uỷ viên.     Từ tháng 5/1976 đến 8/1980 : Cán bộ biên tập Tạp chí Cộng sản, Phó bí thư chi bộ.     Từ tháng 9/1980 đến 8/1981 : Học Nga văn tại trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc.     Từ tháng 9/1981 đến 7/1983 : Thực tập sinh, tốt nghiệp PTS khoa học lịch sử (chuyên ngành Xây dựng Đảng) tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Liên Xô.     Từ tháng 8/1983 đến 02/1989 : Phó ban (1983-1987), Trưởng ban Xây dựng Đảng (1987-1989); Phó Bí thư, Bí thư Đảng uỷ Cơ quan Tạp chí Cộng sản (1985-1991).     Từ tháng 3/1989 đến 8/1996:  Uỷ viên Ban biên tập (1989-1990), Phó Tổng biên tập (1990-1991), Tổng biên tập Tạp chí Cộng sản (1991-1996).     Từ tháng 01/1994 đến nay:  Uỷ viên Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam các khoá VII, VIII, IX, X.     Từ tháng   8/1996 đến 02/1998 : Phó bí thư Thành uỷ Hà Nội, kiêm Trưởng ban cán sự Đại học, trực tiếp phụ trách Ban Tuyên giáo Thành uỷ Hà Nội.     Từ tháng 12/1997 đến nay : Uỷ viên Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam các khoá VIII, IX, X.     Từ tháng 2/1998 đến 01/2000 : Phụ trách công tác Tư tưởng - Văn hoá và Khoa giáo của Đảng.     Từ tháng 3/1998 đến 8/2006 : Phó chủ tịch (1998-2001), Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương, phụ trách công tác Lý luận của Đảng (2001-2006).     Từ tháng 8/1999 đến 4/2001 : Tham gia Thường trực Bộ Chính trị.     Từ tháng 01/2000 đến 6/2006 : Bí thư Thành uỷ Hà Nội (khoá XII, XIII, XIV).     Từ tháng 5/2002 - 5/2007 : Đại biểu Quốc hội khoá XI.     Từ tháng 5/2007 - đến nay : Đại biểu Quốc hội khoá XII.     Tại phiên họp toàn thể ngày 23/7/2007, Kỳ họp thứ nhất- Quốc hội khoá XII, đồng chí đã được Quốc hội tín nhiệm bầu lại làm Chủ tịch Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.      Từ tháng 7/2007 - đến nay:  Chủ tịch Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Bí thư Đảng Đoàn Quốc hội, Uỷ viên Hội đồng Quốc phòng và an ninh.    Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng chí được bầu làm  Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI .    [Nguồn:  http://www.na.gov.vn/htx/Vietnamese/C1323/#JeHQ242amQZk ] </description>
   <link>http://dean165.vnweblogs.com/post/14795/275469</link>
      <pubDate>Wed, 19 Jan 2011 10:53:19 +0700</pubDate>   
  </item>
    <item>
   <title>Tiểu sử t&amp;oacute;m tắt 14 Ủy vi&amp;ecirc;n Bộ Ch&amp;iacute;nh trị</title>
   <description>  ( Xếp theo thứ tự A, B, C)                                                                                                 Ông Lê Hồng Anh (62 tuổi, quê Kiên Giang), Bộ trưởng Công an, Ủy viên Bộ Chính trị khóa IX, X                            Ông Nguyễn Tấn Dũng (62 tuổi, quê Cà Mau), Thủ tướng, Uỷ viên Bộ Chính trị khoá VIII, IX, X.                            Ông Ngô Văn Dụ (64 tuổi, quê Vĩnh Phúc) Chánh Văn phòng Trung ương Đảng.                            Ông Lê Thanh Hải (61 tuổi, quê Tiền Giang), Bí thư Thành ủy TP HCM, Uỷ viên Bộ Chính trị khoá X.                            Ông Nguyễn Sinh Hùng (65 tuổi, quê Nghệ An) Phó thủ tướng, Ủy viên Bộ Chính trị khóa X.                                                                                                           Ông Đinh Thế Huynh (58 tuổi, quê Nam Định) Tổng biên tập báo Nhân dân, Chủ tịch Hội nhà báo Việt Nam.                            Ông Phạm Quang Nghị (62 tuổi, quê Thanh Hóa), Bí thư Thành ủy Hà Nội, Ủy viên Bộ Chính trị khóa X.                            Bà Tòng Thị Phóng (57 tuổi, quê Sơn La) Phó Chủ tịch Quốc hội.                            Nguyễn Xuân Phúc (57 tuổi, quê Quảng Nam) Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ.                            Ông Trần Đại Quang (55 tuổi, quê Ninh Bình), Thứ trưởng Bộ Công an.                                                                                            &nbsp;                                Ông Tô Huy Rứa (64 tuổi, quê Thanh Hóa) Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương, Uỷ viên Bộ Chính trị khoá X.                            Ông Trương Tấn Sang (62 tuổi, quê Long An) Thường trực Ban Bí thư; Uỷ viên Bộ Chính trị khoá VIII, IX, X.                            Ông Phùng Quang Thanh (62 tuổi, quê Hà Nội) Bộ trưởng Quốc Phòng; Ủy viên Bộ Chính trị khóa X.                            Ông Nguyễn Phú Trọng (67 tuổi, quê Hà Nội) Chủ tịch Quốc hội, Uỷ viên Bộ Chính trị khoá VIII, IX, X;                   &nbsp;            </description>
   <link>http://dean165.vnweblogs.com/post/14795/275465</link>
      <pubDate>Wed, 19 Jan 2011 10:31:59 +0700</pubDate>   
  </item>
    <item>
   <title>Qu&amp;agrave; Tết: Từ chối đ&amp;atilde; kh&amp;oacute;, kh&amp;ocirc;ng biếu c&amp;ograve;n kh&amp;oacute; hơn</title>
   <description> Tại hội nghị triển khai nhiệm vụ năm 2011, Bí thư Thành ủy Hà Nội cho rằng, một trong những việc đang làm nhân dân lo lắng là một bộ phận cán bộ lười cống hiến mà &quot; chăm thi&quot; chạy chức, chạy quyền, chạy bằng cấp để mưu cầu lợi ích cá nhân không chính đáng.    Để khắc phục một phần việc trên, ngay thời điểm Tết Nguyên đán này, phải &quot;Thực hiện thật nghiêm chủ trương không biếu tặng quà cho lãnh đạo trong dịp Tết. Chúng ta ngồi đây đều là lãnh đạo, chúng ta cũng đừng đi biếu ai và cũng đừng để ai đến biếu mình. Tôi nghĩ, nếu chúng ta làm được nghiêm sẽ có sức lan tỏa tốt”.  Rất ít khi dân chúng được nghe một vị lãnh đạo nói những lời tâm huyết và chân thành như vậy. Ở đâu đó, có nhiều người nói cho người khác nghe, chỉ đạo cấp dưới làm, nhưng lời nói hời hợt, giả tạo, hình thức, không đọc thấy tất cả sự chân thành chứa đựng trong lời nói đó. Có người lên giọng đạo cao đức trọng, nhưng bản thân mình đã làm những gì, sống như thế nào, hạnh kiểm đến đâu cấp dưới, người dân biết hết, thế thì lời nói đó có hay đến mấy cũng không thuyết phục được ai.    Ông Phạm Quang Nghị đã có nhiều phát biểu rất thẳng thắn, thậm chí có khi ông xin lỗi dân vì đã nói một điều không phải. Sức thuyết phục của ông không chỉ ở sự chân thành, mà vì trong những lời phát biểu của ông, phần lớn không phải dễ dãi, nói lấy được mà có sự cân nhắc rất kỹ lưỡng, có trí tuệ.    Dân chúng thông minh cho nên không phải ai nói gì họ cũng nghe, không phải cứ là lãnh đạo thì nói gì cũng hay. Chuyện đó xưa rồi, nhưng cũng có lắm người không biết như vậy, cứ lên diễn đàn là nói bừa, coi mình thông minh hơn nhân dân.    Trở lại lời nói của ông Bí thư Thành ủy Hà Nội: “Chúng ta ngồi đây đều là lãnh đạo…”. Ở đây, ý ông muốn nhắc nhở, đã là lãnh đạo thì phải gương mẫu, phải sống trung thực, không thực hiện những hành vi xấu xa, mờ ám, thiếu minh bạch. Cụ thể nhất là không đi biếu xén ai và cũng đừng nhận quà biếu xén của ai.    Từ chối nhận quà đã khó, không đi biếu quà còn khó hơn. Ở đời, muốn thăng quan tiến chức thì phải “đầu tư” quan hệ. Cái tập quán xấu xa đó gọi tắt là “chạy”. Một trong những hình thức chạy là quà cáp trong các dịp lễ Tết. Cho nên, chỉ có người không cầu chức tước, có phẩm chất mới không đi biếu quà.     Chân Tâm     [Nguồn:  http://danviet.vn/28184p1c24/qua-tet-tu-choi-da-kho-khong-bieu-con-kho-hon.htm ] </description>
   <link>http://dean165.vnweblogs.com/post/14795/273877</link>
      <pubDate>Tue, 11 Jan 2011 07:48:14 +0700</pubDate>   
  </item>
    <item>
   <title>Nh&amp;agrave; c&amp;aacute;ch mạng l&amp;atilde;o th&amp;agrave;nh Trần Văn Gi&amp;agrave;u qua đời</title>
   <description> Nhà cách mạng lão thành, người thầy của nhiều thế hệ người thầy, cây đại thụ của giới khoa học, sử học Việt Nam ra đi ở độ tuổi 100, để lại niềm thương tiếc trong lòng đồng chí, đồng nghiệp, học trò, độc giả và người dân cả nước.           Ông Lê Thanh Hải, Bí thư Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh trong một lần đến thăm Giáo sư Trần Văn Giàu tại nhà riêng.    Giáo sư, Anh hùng Lao động, Nhà giáo Nhân dân Trần Văn Giàu, nguyên Bí thư Xứ ủy Nam Kỳ, Chủ tịch Ủy ban Hành chính Kháng chiến Nam Bộ đã qua đời lúc 17 giờ 20 phút ngày 16/12, tại Bệnh viện Thống Nhất, Thành phố Hồ Chí Minh- nơi nghỉ dưỡng của giáo sư trong thời gian gần đây.    Giáo sư Trần Văn Giàu sinh ngày 6-9-1911, tại xã An Lục Long, huyện Châu Thành, tỉnh Tân An (nay là tỉnh Long An) từng đảm nhiệm nhiều trọng trách như Bí thư Xứ Ủy Nam Kỳ, Chủ tịch Ủy ban Khởi nghĩa, Chủ tịch Ủy ban Hành chính Kháng chiến Nam Bộ, một trong những lãnh đạo của cao trào Cách mạng tháng Tám năm 1945, giành chính quyền về tay nhân dân của Sài Gòn- Gia Định và Nam Bộ.    Cùng với sự nghiệp cách mạng, giáo sư còn có một sự nghiệp đồ sộ và vẻ vang không kém trong lĩnh vực giáo dục, nghiên cứu, đặc biệt là về sử học và triết học.     Ông từng công tác, giảng dạy tại Khoa Lịch sử- Đại học Tổng Hợp Hà Nội từ khi thành lập trường năm 1956. Ông là tác giả của nhiều công trình nghiên cứu, các tác phẩm về lịch sử Việt Nam, lịch sử vùng đất Nam Bộ, Sài Gòn- Thành phố Hồ Chí Minh, lịch sử tư tưởng của Việt Nam trong thế kỷ 19 và 20.     Giáo sư cũng là người đã có công đào tạo nhiều nhà nghiên cứu, nhà sử học đầu ngành của Việt Nam, là người thầy đáng kính của nhiều thế hệ học trò xuất sắc, trong đó có nhiều nhà quản lý, giáo sư, tiến sỹ hàng đầu trong các lĩnh vực văn hóa, tư tưởng, khoa học xã hội, sử học, triết học.     Với những cống hiến to lớn cho cách mạng, cho đất nước, Giáo sư Trần Văn Giàu đã được Đảng, Nhà nước tặng thưởng nhiều phần thưởng, danh hiệu cao quý như Huy hiệu 80 năm tuổi Đảng, Huân chương Hồ Chí Minh, Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới, Nhà giáo Nhân dân, Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 1 (1996) và nhiều phần thưởng cao quý khác.     Nhiều lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Thành phố Hồ Chí Minh trong những lần đến thăm, chúc thọ, chúc Tết Giáo sư Trần Văn Giàu đều trân trọng đánh giá công lao, sự đóng góp to lớn của Giáo sư, người cộng sản kiên trung, đã hiến dâng cả cuộc đời mình cho Đảng, cho cách mạng, cho dân tộc, cho sự nghiệp khoa học giáo dục nước nhà.     Nhân cách cao đẹp của Giáo sư Trần Văn Giàu còn được biết tới với việc giáo sư đã bán căn nhà của mình trên đường Phạm Ngọc Thạch, Thành phố Hồ Chí Minh để lấy 1.000 cây vàng (thời giá năm 2001) làm kinh phí xây dựng một ngôi trường học tặng quê hương của vợ và lập Giải thưởng khoa học mang tên ông để dành tặng những công trình khoa học xuất sắc trong lĩnh vực khoa học xã hội, các công trình nghiên cứu về Nam Bộ của Thành phố Hồ Chí Minh.    Mặc dù đã được Đảng, Nhà nước, lãnh đạo Thành phố Hồ Chí Minh, các giáo sư, bác sĩ và gia đình tận tình chăm sóc, cứu chữa, nhưng do tuổi cao sức yếu, bệnh nặng, giáo sư Trần Văn Giàu đã vĩnh biệt chúng ta để về cõi vĩnh hằng.     Theo TTXVN     [Nguồn:  http://www.baogialai.com.vn/channel/581/201012/Nha-cach-mang-lao-thanh-Tran-Van-Giau-qua-doi-1970443/ ] </description>
   <link>http://dean165.vnweblogs.com/post/14795/269593</link>
      <pubDate>Fri, 17 Dec 2010 16:45:51 +0700</pubDate>   
  </item>
    <item>
   <title>Học v&amp;agrave; chơi</title>
   <description> Vừa qua các học viên đang theo học thạc sỹ tại trường Đại học Quảng Tây đã tổ chức buổi giao lưu giàu ý nghĩa với các bạn học viên người Trung Quốc. Có thể nói đây là điểm mạnh mang màu sắc “Quảng Tây”, bởi lâu nay các hoạt động ngoại khóa, văn hóa văn nghệ, vui chơi giải trí, học đi đôi với hành… luôn được các bạn học viên ở đây phát huy. Nhân đây chúng tôi cũng mong muốn các bạn ở Bắc Kinh, Quảng Châu, Thượng Hải… một khi “Quảng Tây” gọi thì các bạn cũng nên trả lời!    Giới thiệu một số hình ảnh dễ thương trong buổi giao lưu vừa qua:    &#160;   &#160;   &#160;            &#160;   &#160;       Chúc các bạn luôn vui vẻ và thành công! </description>
   <link>http://dean165.vnweblogs.com/post/14795/268986</link>
      <pubDate>Sun, 12 Dec 2010 17:17:00 +0700</pubDate>   
  </item>
    <item>
   <title>Gửi Anh, chị, em Lớp tiếng Trung khóa I</title>
   <description>  Thời gian vừa qua do ch&uacute;ng ta chưa ổn định, mỗi người lại một chốn, việc học tập rất vất vả, n&ecirc;n c&aacute;c th&ocirc;ng tin về nhau tương đối rời rạc. Để weblog th&ecirc;m ấm &aacute;p khi c&aacute;i lạnh phương bắc đang tr&agrave;n về, Ban Bi&ecirc;n tập weblog đề nghị c&aacute;c Anh, chị, em trong điều kiện c&oacute; thể h&atilde;y gửi tin, b&agrave;i, h&igrave;nh ảnh cho Ban Bi&ecirc;n tập để post l&ecirc;n weblog của m&igrave;nh. V&agrave; tất nhi&ecirc;n, địa chỉ của người điều h&agrave;nh weblog th&igrave; c&aacute;c bạn đ&atilde; biết rồi!     Tha thiết đề nghị c&aacute;c anh, chị, em v&agrave; mong c&aacute;c bạn học tốt, b&igrave;nh an, sức khỏe v&agrave; đạt được nhiều th&agrave;nh c&ocirc;ng hơn nữa trong hiện tại v&agrave; tương lai!  </description>
   <link>http://dean165.vnweblogs.com/post/14795/266410</link>
      <pubDate>Wed, 03 Nov 2010 15:06:01 +0700</pubDate>   
  </item>
    <item>
   <title>Thông báo trúng tuyển vào học chuyên ngành thạc sỹ, tiến sỹ ở Trung Quốc</title>
   <description> Hiện tại, Văn ph&ograve;ng Đề &aacute;n 165 đ&atilde; nhận được th&ocirc;ng b&aacute;o tr&uacute;ng tuyển v&agrave;o học chuy&ecirc;n ng&agrave;nh thạc sỹ, tiến sỹ của c&aacute;c học vi&ecirc;n (Xin bấm  V&Agrave;O Đ&Acirc;Y  để biết th&ecirc;m chi tiết).

  Ch&uacute;c c&aacute;c bạn chuẩn bị tốt v&agrave; th&agrave;nh c&ocirc;ng! </description>
   <link>http://dean165.vnweblogs.com/post/14795/247812</link>
      <pubDate>Tue, 10 Aug 2010 10:37:30 +0700</pubDate>   
  </item>
    <item>
   <title>Hướng dẫn sử dụng biểu tượng quốc gia</title>
   <description> Bộ Ngoại giao vừa ban h&agrave;nh Th&ocirc;ng tư số 01/2010/TT-BNG ng&agrave;y 15/7/2010 hướng dẫn sử dụng biểu tượng quốc gia v&agrave; nghi thức nh&agrave; nước tổ chức một số hoạt động đối ngoại tại cơ quan đại diện nước Cộng h&ograve;a x&atilde; hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngo&agrave;i. Th&ocirc;ng tư n&agrave;y quy định việc sử dụng quốc kỳ, quốc huy, quốc thiều, ảnh hoặc tượng Chủ tịch Hồ Ch&iacute; Minh, ảnh l&atilde;nh đạo nước Cộng h&ograve;a x&atilde; hội chủ nghĩa Việt Nam; quốc kỳ, quốc huy, quốc thiều, ảnh l&atilde;nh tụ, l&atilde;nh đạo của quốc gia tiếp nhận, cờ của chủ thể địa phương nơi đặt cơ quan đại diện l&atilde;nh sự hay văn ph&ograve;ng trực thuộc cơ quan đại diện v&agrave; cờ của tổ chức quốc tế tiếp nhận (gọi tắt l&agrave; biểu tượng quốc gia).
  Th&ocirc;ng tư quy định: trụ sở cơ quan đại diện v&agrave; văn ph&ograve;ng trực thuộc phải treo quốc huy v&agrave; quốc kỳ Việt Nam. Quốc kỳ Việt Nam được treo trong c&aacute;c hoạt động lễ tiết đối ngoại của cơ quan đại diện; quốc kỳ Việt Nam được treo ngo&agrave;i trời tại trụ sở cơ quan đại diện, văn ph&ograve;ng trực thuộc, nh&agrave; ri&ecirc;ng c&oacute; đ&egrave;n chiếu s&aacute;ng khi trời tối. Trong trường hợp quốc gia tiếp nhận quy định treo quốc kỳ nước tiếp nhận tại trụ sở cơ quan đại diện, văn ph&ograve;ng trực thuộc hoặc nh&agrave; ri&ecirc;ng khi nguy&ecirc;n thủ quốc gia, người đứng đầu cơ quan h&agrave;nh ph&aacute;p hoặc lập ph&aacute;p quốc gia tiếp nhận đến dự c&aacute;c hoạt động đối ngoại tại đ&oacute;, quốc kỳ nước tiếp nhận được treo c&ugrave;ng quốc kỳ Việt Nam. Quốc kỳ Việt Nam v&agrave; quốc kỳ nước tiếp nhận phải c&oacute; k&iacute;ch thước tương đương, c&aacute;ch treo giống nhau v&agrave; cao ngang nhau, quốc kỳ Việt Nam treo b&ecirc;n phải, quốc kỳ nước tiếp nhận b&ecirc;n tr&aacute;i nếu từ ngo&agrave;i nh&igrave;n v&agrave;o. Quốc kỳ của nước tiếp nhận được treo l&ecirc;n trước khi kh&aacute;ch đến v&agrave; được hạ xuống sau khi kh&aacute;ch rời đi.
  Th&ocirc;ng tư n&agrave;y c&oacute; hiệu lực sau 45 ng&agrave;y kể từ ng&agrave;y đăng c&ocirc;ng b&aacute;o.  </description>
   <link>http://dean165.vnweblogs.com/post/14795/245220</link>
      <pubDate>Tue, 27 Jul 2010 19:44:21 +0700</pubDate>   
  </item>
    <item>
   <title>Thông tư 103/2010 bổ sung sửa đổi Thông tư 141/2009 về Đề án 165</title>
   <description>  Ng&agrave;y 19 th&aacute;ng 7 năm 2010, Bộ T&agrave;i ch&iacute;nh đ&atilde; ban h&agrave;nh Th&ocirc;ng tư 103/2010/TT-BTC về việc sửa đổi, bổ sung Th&ocirc;ng tư số 141/2009/TT-BTC, ng&agrave;y 13 th&aacute;ng 7 năm 2009 của Bộ T&agrave;i ch&iacute;nh quy định chế độ t&agrave;i ch&iacute;nh thực hiện Đề &aacute;n &quot;đ&agrave;o tạo, bồi dưỡng c&aacute;n bộ l&atilde;nh đạo, quản l&yacute; ở nước ngo&agrave;i bằng ng&acirc;n s&aacute;ch Nh&agrave; nước&quot;.    So với Th&ocirc;ng tư 141/2009/TT-BTC th&igrave; lần n&agrave;y c&oacute; nhiều bổ sung, sửa đổi... kh&ocirc;ng c&oacute; lợi cho học vi&ecirc;n theo học thuộc Đề &aacute;n 165, nhất l&agrave; những học vi&ecirc;n học chương tr&igrave;nh d&agrave;i ng&agrave;y. Điều m&agrave; học vi&ecirc;n chờ đợi nhất l&agrave; thay đổi n&acirc;ng mức sinh hoạt ph&iacute; trong thời buổi gi&aacute; cả leo thang đ&atilde; kh&ocirc;ng xảy ra. Thay đổi cơ bản l&agrave; việc thanh to&aacute;n đi lại b&acirc;y giờ được đẩy cho... cơ quan cử đi học. Đ&acirc;y được coi l&agrave; một &quot;g&aacute;nh nặng&quot; t&agrave;i ch&iacute;nh cho cơ quan c&oacute; người đi họ.    Bạn n&agrave;o quan t&acirc;m th&igrave;  V&Agrave;O Đ&Acirc;Y  để tải Th&ocirc;ng tư 103/2010/TT-BTC để nghi&ecirc;n cứu.   </description>
   <link>http://dean165.vnweblogs.com/post/14795/244568</link>
      <pubDate>Sat, 24 Jul 2010 17:04:01 +0700</pubDate>   
  </item>
    <item>
   <title>Dạy và học tiếng dân tộc thiểu số trong các cơ sở giáo dục phổ thông</title>
   <description> Ng&agrave;y 15/7/2010, Ch&iacute;nh phủ ban h&agrave;nh Nghị định số 82/2010/NĐ-CP quy định việc dạy v&agrave; học tiếng n&oacute;i, chữ viết của d&acirc;n tộc thiểu số. Nghị định n&agrave;y &aacute;p dụng cho người dạy tiếng d&acirc;n tộc thiểu số v&agrave; người d&acirc;n tộc thiểu số học tiếng d&acirc;n tộc thiểu số đ&atilde; c&oacute; chữ viết ở c&aacute;c cơ sở gi&aacute;o dục phổ th&ocirc;ng v&agrave; trung t&acirc;m gi&aacute;o dục thường xuy&ecirc;n trong hệ thống gi&aacute;o dục quốc d&acirc;n. Nh&agrave; nước tập trung đầu tư, ưu ti&ecirc;n việc dạy v&agrave; học tiếng d&acirc;n tộc thiểu số đối với c&aacute;c d&acirc;n tộc thiếu số &iacute;t người. Tr&ecirc;n cơ sở nguyện vọng của người d&acirc;n tộc thiểu số v&agrave; điều kiện tổ chức dạy học tiếng d&acirc;n tộc thiểu số của địa phương, UBND cấp tỉnh đề nghị Bộ Gi&aacute;o dục v&agrave; Đ&agrave;o tạo về việc dạy học tiếng d&acirc;n tộc thiểu số tr&ecirc;n địa b&agrave;n.
  Gi&aacute;o vi&ecirc;n dạy tiếng d&acirc;n tộc thiểu số được hưởng phụ cấp tr&aacute;ch nhiệm c&ocirc;ng việc bằng 0,3 so với mức lương tối thiểu chung; kh&ocirc;ng &aacute;p dụng chế độ phụ cấp n&agrave;y đối với những người đ&atilde; được hưởng phụ cấp tr&aacute;ch nhiệm theo quy định tại Điều 13 Nghị định số 61/2006/NĐ-CP ng&agrave;y 20/6/2006 của Ch&iacute;nh phủ về ch&iacute;nh s&aacute;ch đối với nh&agrave; gi&aacute;o, c&aacute;n bộ quản l&yacute; gi&aacute;o dục đang c&ocirc;ng t&aacute;c ở trường chuy&ecirc;n biệt, v&ugrave;ng c&oacute; điều kiện kinh tế - x&atilde; hội đặc biệt kh&oacute; khăn. Người học được nh&agrave; nước đảm bảo s&aacute;ch gi&aacute;o khoa, t&agrave;i liệu tham khảo tiếng d&acirc;n tộc thiểu số ph&ugrave; hợp với từng đối tượng; người học l&agrave; c&aacute;n bộ, c&ocirc;ng chức, vi&ecirc;n chức được hưởng chế độ đ&agrave;o tạo, bồi dưỡng c&aacute;n bộ, c&ocirc;ng chức, vi&ecirc;n chức nh&agrave; nước theo quy định. H&agrave;ng năm, cơ sở gi&aacute;o dục phổ th&ocirc;ng v&agrave; trung t&acirc;m gi&aacute;o dục thường xuy&ecirc;n được giao nhiệm vụ dạy tiếng d&acirc;n tộc thiểu số, được giao th&ecirc;m bi&ecirc;n chế gi&aacute;o vi&ecirc;n tương ứng với số tiết dạy tiếng d&acirc;n tộc thiểu số theo quy định.
  Nghị định n&agrave;y c&oacute; hiệu lực thi h&agrave;nh kể từ ng&agrave;y 31/8/2010. C&aacute;c quy định trước đ&acirc;y tr&aacute;i với Nghị định n&agrave;y đều được b&atilde;i bỏ.  </description>
   <link>http://dean165.vnweblogs.com/post/14795/244049</link>
      <pubDate>Thu, 22 Jul 2010 09:16:23 +0700</pubDate>   
  </item>
    <item>
   <title>Ban Chỉ đạo Đề án 165 làm việc với Lớp tiếng Trung</title>
   <description>  S&aacute;ng ng&agrave;y 08-7-2010, tại trụ sở Ban Chỉ đạo Đề &aacute;n 165, đồng ch&iacute; PGS,TS. Nguyễn Xu&acirc;n Sơn, nguy&ecirc;n Vụ trưởng Vụ Đ&agrave;o tạo, bồi dưỡng c&aacute;n bộ Ban Tổ chức Trung ương, th&agrave;nh vi&ecirc;n Ban Chỉ đạo Đề &aacute;n ki&ecirc;m Ch&aacute;nh Văn  ph&ograve;ng điều h&agrave;nh Đề &aacute;n đ&atilde; tiếp th&acirc;n mật Lớp tiếng Trung (kh&oacute;a I) - Đề &aacute;n 165 tại Đại học Quảng T&acirc;y. Sau khi nghe đồng ch&iacute; Nguyễn Văn Mạnh, lớp trưởng Lớp tiếng Trung (kh&oacute;a I) - Đề &aacute;n 165 tại Trường Đại học Quảng T&acirc;y b&aacute;o c&aacute;o kết quả học tập trong gần một năm qua. PGS, TS. Nguyễn Xu&acirc;n Sơn đ&atilde; ghi nhận v&agrave; đ&aacute;nh gi&aacute; cao việc khắc phục kh&oacute; khăn, vượt kh&oacute; của học vi&ecirc;n Trường Đại học Quảng T&acirc;y đạt được trong thời gian qua; đồng thời đồng ch&iacute; cũng nhắc nhở c&aacute;c học vi&ecirc;n Trường Đại học Quảng T&acirc;y n&oacute;i ri&ecirc;ng, học vi&ecirc;n thuộc Đề &aacute;n 165 n&oacute;i chung cần nỗ lực hơn nữa, ph&aacute;t huy tinh thần đo&agrave;n kết, tương trợ lẫn nhau, quyết t&acirc;m học tốt v&agrave; g&oacute;p phần truyền b&aacute; văn h&oacute;a Việt Nam, tinh thần y&ecirc;u chuuộng h&ograve;a b&igrave;nh, th&acirc;n thiện của nh&acirc;n d&acirc;n Việt Nam đến với bạn b&egrave; Trung Quốc v&agrave; quốc tế.   </description>
   <link>http://dean165.vnweblogs.com/post/14795/241690</link>
      <pubDate>Sat, 10 Jul 2010 14:31:54 +0700</pubDate>   
  </item>
    <item>
   <title>Bế giảng Lớp tiếng Trung (khóa I) - Đề án 165</title>
   <description>  Ng&agrave;y 07-7-2010, tại giảng đường A1, Trường Đại học Quảng T&acirc;y, Ban Gi&aacute;m hiệu Nh&agrave; trường v&agrave; Văn ph&ograve;ng Lưu học sinh c&ugrave;ng c&aacute;c thầy, c&ocirc; gi&aacute;o tham gia giảng dạy đ&atilde; long trọng tổ chức lễ bế giảng Lớp tiếng Trung (kh&oacute;a I) - Đề &aacute;n 165 đang theo học tại Trường Đại học Quảng T&acirc;y.    Sau gần một năm học tập, 15 học vi&ecirc;n đ&atilde; xuất sắc ho&agrave;n th&agrave;nh kh&oacute;a học tiếng Trung v&agrave; được cấp giấy chứng nhận ho&agrave;n th&agrave;nh chương tr&igrave;nh học tiếng Trung của Trường.Ph&aacute;t biểu tại buổi lễ, đại diện nh&agrave; trường, l&atilde;nh đạo văn ph&ograve;ng Lưu học sinh đ&atilde; vinh dự được đ&oacute;n tiếp c&aacute;c học vi&ecirc;n thuộc Đề &aacute;n 165 của Việt Nam; ghi nhận v&agrave; đ&aacute;nh gi&aacute; cao nỗ lực vượt kh&oacute;, học tập tốt của c&aacute;c học vi&ecirc;n Lớp tiếng Trung (kh&oacute;a I) - Đề &aacute;n 165.     Trước đ&oacute; tại  lễ tốt nghiệp  lưu học sinh học tiếng Trung, nh&agrave; trường đ&atilde; vinh danh c&aacute;c th&agrave;nh vi&ecirc;n nỗ lực, t&iacute;ch cực trong học tập, c&aacute;c học vi&ecirc;n lớp tiếng Trung đật 5/7 học vi&ecirc;n của nh&agrave; trường.   </description>
   <link>http://dean165.vnweblogs.com/post/14795/241512</link>
      <pubDate>Fri, 09 Jul 2010 13:27:03 +0700</pubDate>   
  </item>
    <item>
   <title>Nghĩa cử tri &amp;acirc;n</title>
   <description>      Sau một thời gian chuẩn bị, hôm nay (05-7-2010),  Lớp tiếng Trung khóa I – Đề án 165 tại Trường Đại học Quảng Tây  đã phát hành Kỷ yếu của lớp. Ngoài bút tích của Chủ tịch Hồ Chí Minh; Lời nói đầu; Quyết định 2762 của Ban Chỉ đạo Đề án 165 về việc cử Đoàn cán bộ đi học tiếng Trung để chuẩn bị nghiên cứu sinh và cao học tại Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa; Mục tiêu, đối tượng của Đề án 165; Giới thiệu về Trường Đại học Quảng Tây và bài viết Trường Dục Tài ngày ấy, bây giờ, Kỷ yếu được chia làm hai phần: Phần một về giáo viên và học viên; phần hai một số hình ảnh học tập và hoạt động ngoại khóa. Đây là nỗ lực lớn của Ban Cán sự lớp, Ban Biên tập và tập thể lớp, vì trong thời điểm biên tập Kỷ yếu là khoảng thời gian thi HSK và thi tốt nghiệp tiếng Trung.   Việc phát hành Kỷ yếu được tập thể lớp đồng tình ủng hộ và coi đây là một nghĩa cử tri ân tốt đẹp, nhân văn đối với Ban Chỉ đạo Đề án 165, các thầy, cô giáo Trường Đại học Quảng Tây, đặc biệt là Văn phòng Lưu học sinh, cô giáo Chủ nhiệm, Phụ trách lớp; Tổng Lãnh sự quán Việt Nam tại Quảng Tây và các bạn lưu học sinh Việt Nam đang theo học tại đây, đúng như  Lời nói đầu  đã bọc bạch tấm lòng của mỗi thành viên trong lớp: “ Gần một năm qua chúng ta đã luôn sát cánh, xiết chặt tay nhau với nỗ lực và quyết tâm cao nhất để học tập và học tập tốt với mong muốn mai sau về phục vụ quê hương, đất nước và luôn ghi sâu lời Bác Hồ dạy: &quot;  Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước &quot; . Không những thế mỗi thành viên đến từ mỗi vùng, miền văn hóa khác nhau luôn sống chan hòa, đầm ấm như những người ruột thịt, mỗi chúng ta như là sứ giả của hòa bình, văn hóa nhằm góp phần giới thiệu hình ảnh Việt Nam thân thiện với bè bạn Trung Quốc và quốc tế, xứng đáng với niềm tin yêu của quê nhà. Một năm ấy thật đáng nhớ và không thể phai mờ. Thời gian trôi qua thật nhanh, không còn bao lâu nữa là đến ngày phải chia tay, khi mỗi thành viên học chuyên ngành, rồi khi mỗi chúng ta tốt nghiệp trở về Tổ Quốc. Nhưng dù ở đâu, bất cứ khi nào, chúng ta luôn luôn mong cho mỗi thành viên lớp chúng ta ở nơi xa đó chân cứng đá mềm và thành đạt.      Rồi năm tháng sẽ qua đi, cuộc sống sẽ có nhiều biến đổi, song chúng ta tin tưởng chắc chắn rằng những tình cảm và lòng đoàn kết của chúng ta không bao giờ thay đổi. Vì vậy, chúng ta thống nhất biên soạn cuốn sách này để lưu lại những hình ảnh, thông tin về nhau, giữ mối liên hệ chặt chẽ làm hành trang vững bước vào chân trời rộng mở”.     Chúc các bạn và chúng ta bước vào thời kỳ học tập mới với nhiều thắng lợi mới, nhưng điều căn bản hơn cả là chúng ta hãy luôn nhớ về nhau, làm những điều tốt đẹp nhất cho nhau với tất cả khả năng của mình, đó mới là điều đáng quý và trân trọng. </description>
   <link>http://dean165.vnweblogs.com/post/14795/240827</link>
      <pubDate>Mon, 05 Jul 2010 20:14:06 +0700</pubDate>   
  </item>
   </channel>
</rss>


